Mai đã là 30 Tết rồi !
Chiều ba mươi Tết (năm ấy tháng thiếu, 29 là ngày ba mươi), đơn vị dừng chân ở một phum trù phú ven bờ Tonle Sap. Tôi bị Tào Tháo đuổi có lẽ do món thịt bò hầm bằng thùng đại liên trộn với nước lã uống đại dọc đường oánh nhau trong bụng. Đêm mắc võng cạnh anh Thịnh 2W, nghe Thu Phương (không phải Thu Phương bây giờ) hát qua cái radio chiến lợi phẩm mà lòng quặn lên nỗi…đi ngoài. Bài hát này tôi thuộc và rất thích :” Em ơi mùa xuân đến rồi đó! Thắm đỏ ngàn hoa sắc mặt trời…”.(Bây giờ thằng con giời đánh của tôi nghe chúng bạn đâu đó sửa lại thành:” Em ơi đừng nghe nó lừa đấy! Nó ở nhà quê mấy vợ rồi…!”). Gà lợn đầy phum và đã có lệnh được phép sử dụng thực phẩm thu được của địch một cách hợp lý. Nhưng các bạn biết đấy,với mấy thằng lính chiến thì giới hạn của sự hợp lý là vô hạn.
Thôi thì đủ các món trên trời dưới bể : kho, xào,nướng, tái…Anh Hồng đại trưởng đại 4 còn thể hiện món tiết canh chó. Các đại đội đóng quân tương đối xa nhau nên hữu tuyến được nghỉ không phải dải dây. Đến giao thừa, tất cả các cỡ súng đồng loạt rộ lên. Tiếng đạn nhọn giòn như bắp rang điểm nhịp trầm trầm của hoả lực. Đạn vạch đường AK, đại liên, 12.8 từ hướng các tiểu đoàn bay vạch ngang vạch dọc bầu trời. Thậm chí còn có thể nhận ra những vệt đỏ lừ của đạn chống tăng M.72 . Anh Lộc người Hà Tây mới về nhận nhiệm vụ chính trị viên phó tiểu đoàn 4 định kêu 2W gọi xuống các đại đội thì mọi người gạt đi :”Gọi làm gì ! Địch tập kích ấy mà!”.“ Mẹ chúng nó ! Tập kích đường không hay sao ấy nên toàn bắn lên trời thế kia ! Mai trung đoàn hỏi thì ăn nói thế nào ?”.” Ấy đừng lo ! Chắc bây giờ trung đoàn bộ cũng đang bị tập kích thôi !”- Chính trị viên Thưởng khoái trá. Thực ra từ hồi chiều chỉ huy tiểu đoàn đã lệnh cho các đại đội cấm cho lính bắn bậy. Nhưng giờ phút thiêng liêng này, ai nỡ ngăn cản những xúc cảm con người. Nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương xa xót, lòng hy vọng ở một ngày mai yên bình, lời vĩnh biệt thằng bạn cùng ra lính sáng nay ngã xuống, niềm cô đơn bất tận của đoàn người tha hương...Tất cả, tất cả những ẩn ức dồn nén ấy đã bật ra trong tiếng súng. Bi tráng và day dứt hơn bất cứ dàn giao hưởng nào. Phải chăng con sói của Jack London cũng đã từng tru lên như thế trong đêm lạnh dưới vầng trăng vùng cực? Trong tận cùng cô độc, nhìn sâu vào lòng mình, con người trưởng thành hơn và thấy thương con người hơn. Tất nhiên chúng tôi hiểu Đất nước và Nhân dân luôn bên cạnh, nhưng trong khoảnh khắc ấy, với tôi là những giờ phút rất riêng tư.
Sau Tết được vài hôm, anh Ky, tôi và thằng Tuý 2W (hy sinh năm 1980) được lệnh đi độc lập với đại đội 2 (đại đội anh hùng) cùng sở chỉ huy nhẹ tiểu đoàn ra Ô Đông phối thuộc với trung đoàn 3 . Địch bâu bám, quấy rối và đánh cắt giao thông lộ 5 đi Kompong Ch’nang, đẩy tiểu đoàn 8 trung đoàn 3 ra sát rìa lộ. Ở ngã tư gần thị trấn Ô Đông còn thấy năm sáu chiếc xe tăng T.54, M.113 của ta bị nó phục kích bắn cháy đen thui. Địa hình ruộng khô xen lẫn rừng thưa nên rất khó quan sát. Được tăng viện, trung đoàn 3 quay lại đuổi địch dạt vào phía rừng. Nhưng bọn này thuộc địa hình, cứ dạt ra chỗ này lại bâu chỗ khác rất khó chịu. Đã ba ngày liền, tiểu đoàn 8 và đại 2 tiểu đoàn 4 quần nhau với bọn này. Rình rập nhau từng xó rừng, bờ ruộng. Mùa khô lính khát nước gần chết. Phía trong rừng thưa lẫn ruộng chỉ có độc nhất một cái hồ nhỏ, không hiểu sao lại gọi tên là hồ Thiên nga. Đại 2 đánh lên rồi nằm trấn ngay bờ hồ ấy, cứ thằng nào mò ra lấy nước là bắn tỉa. Gần 2 chục thằng phơi xác. Có lần địch bắn rát hô xung phong nhưng anh Hải (người Quảng ninh – hy sinh năm 1981) đại trưởng quát lính nằm im không thèm bắn. Bọn này biết ngay là gặp thành phần không dễ chơi nên lại dạt ra phía lộ. Trên máy PRC.25 nó dò được tần số liên lạc của ta liền chửi :”chuây me Duôn!” nhặng xị. Có thằng biết chửi cả bằng tiếngViệt. Thằng Tuý chửỉ lại mỏi mồm, bảo chúng nó có khát thì chịu khó đái ra mà uống chứ đừng dại dột lại gần cái hồ này rồi chuyển tần số theo quy định. Gần tối, đại đội 2 lại được lệnh quay ra lộ 5 đánh bọc đít. Đi đến đâu địch dạt ra đến đấy. Trên mặt lộ, anh Nguyễn Năng Nguyễn – trung đoàn trưởng trung đoàn 3- dàn cả 5 khẩu DK.75 táng đạn xuyên vào bìa rừng chúng nó mới tháo lui.
Sơ qua về truyền thống đơn vị chúng tôi một chút : Sư đoàn 9 - Từng được mệnh danh Quả đấm thép miền đông Nam bộ có ba trung đoàn. Trung đoàn 1 mang tên trung đoàn Bình Giã. Sau trận Bình Giã oanh liệt mà mang danh. Trung đoàn 2 là trung đoàn tôi phục vụ, mang tên chiến thắng Đồng xoài. Trung đoàn 3 mang tên chiến thắng Hoa Lư. Riêng trung đoàn tôi với truyền thống “Thành đồng quyết thắng- Trung dũng kiên cường- Đi là chiến thắng- Đánh là dứt điểm” đã có tiểu đoàn 6 được phong tặng danh hiệu Anh hùng. Tiểu đoàn 4 của tôi có tới hai đại đội Anh hùng là đại 1 và đại 2. Từ cái nôi tiểu đoàn 4, qua trui rèn chiến trận đã thành danh các tướng lĩnh như anh Sơn, anh Nguyễn...Còn biết bao các anh nữa nếu giờ phút này chưa hy sinh anh dũng hẳn sẽ là những sỹ quan rường cột nước nhà như anh Hải, anh Quang.. Đi trận với những người chỉ huy dày dạn và quyết đoán, bộ đội tin tưởng và quyết tâm hơn. Tôi nhớ anh Sơn tiểu đoàn trưởng, quân phục lúc nào cũng tinh tươm. Khi đụng địch cũng chẳng lúc nào đi khom, trừ khi nó bắn rát quá. Thằng thông tin tiểu đoàn là tôi đi bên cạnh chẳng nhẽ lại bò, nên cũng cố hít một hơi thật sâu rồi đứng dậy. Tôi nhớ anh Quang râu (hy sinh năm 1980), khi địch nó đánh thốc vào đại đội 1 ở Ămleng. Có mỗi cái hầm nhỏ, hai anh em nhường nhau chẳng ai chịu chúi. Anh ấy dúi tôi vào rồi cứ ngồi kềnh kễnh trên miệng hố mà thét lính…Chiến thắng đến có thể bằng nhiều cách. Nhưng những hành vi cao thượng luôn khích lệ con người…
Lộ 5 đã thông, đại đội 2 và chúng tôi trở về đội hình tiểu đoàn bằng xe tải. Từ Ô Đông lên thẳng Kampong Ch’nang rẽ phải xuôi ra bờ Tonle Sap. Tiểu đoàn 4 (thiếu) đã cùng tàu hải quân lên Kampong Ch’nang trước bằng đường thuỷ. Đại đội 2 qua sông bằng thuyền của dân bạn, về đội hình tiểu đoàn ở Bongbang, bên kia thị xã Kampong Ch’nang. Ban chỉ huy tiểu đoàn đóng tại cái chùa lớn. Trung đội thông tin nằm trong cái nhà đúc 2 tầng cách BCH khỏang 100m. Về đến nơi, tôi và anh Ky được phân công xuống đại đội 1 ngay. Phải nói là sau những đòn mãnh liệt và nhanh chóng của ta, địch bắt đầu hồi lại và tổ chức phản kích. Các đơn vị nhỏ lẻ bâu bám cầm chân chủ lực ta để các đơn vị cấp sư đoàn gom quân, vũ khí, khí tài rút vào địa hình hiểm trở hòng kháng chiến lâu dài. Chiến tranh có vẻ kết thúc sau khi Phnom Penh được giải phóng. Nhưng với chúng tôi, nó mới thực sự bắt đầu. Đêm vừa xuống đến đại đội 1, địch tập kích ngay. Tiếng súng rộ lên khắp các đại đội. Nó đánh cả vào ban chỉ huy tiểu đoàn. Đại đội 1 nằm cạnh một gò núi nhỏ mọc đầy tre tầm vông, chẹn ngang con đường đất đi về phía rừng thưa. Đại 2, đại 3, đại 4 nằm liền kề bố trí hình vòng cung lõm. Ban ngày yên tĩnh. Cánh đồng trống trải nhìn rõ những gò cây khô trơ trụi do cháy và rụng lá mùa khô. Lính tráng đi lại kiếm ăn cải thiện khá thoải mái. Sơn “ba tai” hữu tuyến còn kiếm đâu được con ngựa liền cưỡi ra bờ sông sang thị xã Kampong Chnang kiếm rau ăn. Chiều tối cả người cả ngựa bơi vượt sông về. Tôi cũng thử tập làm kỵ sỹ. Dù lót cả cái bao tải làm yên nhưng cũng trợt cả da mông vì mồ hôi ngựa. Một lần vào buổi trưa, thằng Đồng Huế liên lạc phát hiện một con trâu đang xồng xộc chạy trên đồng, hướng địch hay vào tập kích . Tôi và nó nằm ngay trên cái phản trong lều đại đội vớ ngay AK cứ thế tương. Con trâu đã loạng choạng lảo đảo thì lại thấy bóng người đang đuổi theo nó. Ah! Địch rồi! Thằng này tợn thật, dám tiếc con trâu à!. Thế là lại quay sang tỉa nó. Thằng Gia “cà bây”(trâu) bên cối 60 hét lên:” địch đâu mà địch! Ông Khanh đấy!”. Xung lực ngưng bắn ngay lập tức. Bố Khanh -(Quê Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá - đại trưởng) – đúng là bố Khanh thật, từ từ đứng dậy quan sát rồi bình tĩnh tiến đến con trâu đã chết. Sau một hồi hì hục giải phẫu, xách về một cái lưỡi trâu, một quả tim lừ lừ đi thẳng vào lều hỏi: ”Thằng nào vừa bắn đấy?” Thằng Đồng im lặng. Còn tôi đứng ngay dậy :” Em bắn đấy! Em tưởng…”. Thế là veo một cái, cả cái lưỡi trâu trên tay cha Khanh bay thẳng vào mặt tôi. Phản ứng cực lẹ, tôi né được phát thứ nhất. Chưa định thần thì bụp, cả quả tim trâu đầy máu đập ngay vào bụng tôi rồi lăn ra đất. Dường như đã hả tức, anh ấy chửi rủa vài câu nữa rồi thôi. Thằng Đồng len lén đi nhặt chiến lợi phẩm bất đắc dĩ ấy đi rửa để chiều làm bữa. Còn tôi cởi áo (cái áo duy nhất), ra sau bụi le đái vào vò sạch máu trâu rồi đi giặt.
Đấy là ban ngày, còn ban đêm các trung đội căng ra gác. Kể cả các trung đội thông tin, trinh sát và vận tải tiểu đoàn. Đêm nào địch cũng tập kích quấy rối. Bọn nó nằm ngoài bờ hoặc bìa rừng khô lia đạn nhọn vào đội hình chứ cũng không dám xáp vô. Thỉnh thoảng cóc oành quả M.79. Hồi đầu, khẩu DK.75 đi phối thuộc với đại 1 cứ thấy loé lửa đầu nòng chỗ nào lại phụt một trái vào đấy. Lâu ngày thành quen, ta chán không bắn lại nữa. Bọn nó đâm sợ bị ta dâng đội hình phục kích nên dãn ra xa.
Đêm mùa khô thật lạnh. Địch tập kích đã thành quen. Có những hôm không có tiếng súng bọn tôi không thể ngủ được. Tất nhiên,đừa nào gác cứ gác,đứa nào ngủ cứ ngủ. Bây giờ là khoảng giữa tháng hai năm 1979. Qua radio, tôi biết bọn Khựa đang tiến công ta trên toàn tuyến biên giới. Dường như để phối hợp ,bọn Miên cũng tăng cường hoạt động. Có lần, giữa đại đội 1 và đại đội 3, có hai thằng phụ B.40 lọt hẳn vào đội hình. Lính ta thấy mặt hơi bị lạ túm lại hỏi :"Mày ở B nào?". Nó chỉ loằng ngoằng một lúc rồi phọt ra cánh đồng. Mất cơ hội bắt sống hoặc diệt địch.
Đêm khuya thanh vắng. Bầu trời quanh vị trí đứng chân của tiểu đoàn bỗng rền rĩ nức nở những tiếng than ai oán. Tôi nằm nghe cũng rợn hết cả da người. Súng đây! Đồng đội cũng ngay đây! Ông Khanh đại trưởng đại 1 đánh nhau thì hay nhưng hoá ra cũng sợ ma. Ông ấy hô thằng Dung "kỳ đà" bắn cối. Cả đại đội nhỏm dậy. Điện thoại tiểu đoàn gọi xuống hỏi tại sao các anh dùng hoả lực. Thì ra là tiếng kêu của bày công đất đi ăn đêm (thịt công đất tuyệt ngon-đúng là nem công chả phượng. Chuyện này tôi sẽ kể với các bạn sau).
Đêm khuya thanh vắng. Bầu trời quanh vị trí đứng chân của tiểu đoàn bỗng rền rĩ nức nở những tiếng than ai oán. Tôi nằm nghe cũng rợn hết cả da người. Súng đây! Đồng đội cũng ngay đây! Ông Khanh đại trưởng đại 1 đánh nhau thì hay nhưng hoá ra cũng sợ ma. Ông ấy hô thằng Dung "kỳ đà" bắn cối. Cả đại đội nhỏm dậy. Điện thoại tiểu đoàn gọi xuống hỏi tại sao các anh dùng hoả lực. Thì ra là tiếng kêu của bày công đất đi ăn đêm (thịt công đất tuyệt ngon-đúng là nem công chả phượng. Chuyện này tôi sẽ kể với các bạn sau).
Hướng trung đội 2 tiếng trung liên của thằng Cự kéo hai loạt ngắn trước. Tiếng AK của địch đáp trả rất gần. Một lát sau nổ thêm 3 phát nữa nhưng xa hơn. Sau đó tất cả lại im lặng. Bình thường địch bao giờ cũng nổ súng trước nhưng đêm nay như thế thì quả là lạ. Anh Khanh nhỏm dậy gọi thằng Đồng cùng xuống trung đội 2 kiểm tra tình hình. Một lát sau trở về kêu các trung đội tổ chức thêm vọng gác. Cả BCH đại đội và cối 60mm vì nằm gần nhau nên cũng phải tổ chức chung một vọng gác nữa. Cái linh cảm là lạ này bắt đầu ở đâu nhỉ? Ah! Thì ra là từ sự im lặng bất thường ấy, Rồi đêm cũng dần qua. Buổi sáng, trước hầm gác của thằng Cự trung đội 2 lù lù một cái xác Miên to vật. Nó nằm sấp úp mặt xuống đất. Lính ta định lật xác nó lên thì anh Khanh cản lại. Săm soi một lúc nữa mới phát hiện thêm một vệt máu nữa cách đấy một chút rồi mất dấu. Trở lại xác thằng địch chết, thận trọng lật lên (vì đề phòng chúng nó gài mìn) thu khẩu M.79 với rất nhiều đạn và lựu đạn. Bộ ka ki màu xám, cái túi mìn claymo bên trong có một cái võng nilon (cái võng này tất nhiên thuộc về thằng Cự). Một cuốn sổ ghi chép linh tinh chữ loằng ngoằng như giá đỗ. Ở moi quần còn phụt ra cả một đám tinh dịch loang lổ, chắc do mất kiểm soát hành vi trước khi về nước Chúa. Khẩu M.79 đã bắn nhưng đạn mới ra khỏi nòng đượcmột nửa vì ngã sấp. Trinh sát tiểu đoàn khi dịch cuốn sổ cho biết đây chính là bọn đặc công, đêm qua định xơi tái đại 1. Thật may là đàn công đất đã báo động cho chúng tôi. Khi đại đội bắn cối nó tưởng là bị lộ nên rút ra. Có thể hình dung tổ ba người của thằng trinh sát này đen đủi mò vào đúng họng RPD của trung đội 2. Chết 1, bị thương 1 vì vẫn còn dấu máu khi rút lui. Tiếng AK bắn 3 phát sau từ phía xa có thể là hiệu lệnh tập hợp đội hình của địch. Hú vía! Từ đó bố có bảo cũng chẳng thằng nào dám bỏ gác.
Thường thì cán bộ đại đội khi chọn liên lạc bao giờ cũng chọn những thằng nhanh nhẹn tháo vát, nhỏ người trong số quân mới bổ sung. Ngoài nhiệm vụ liên lạc với các trung đội, nó còn là cả một cái kho di động, chuyên ém những nhu yếu phẩm cần thiết. Chẳng hạn có giai thoại là khi bắt đầu buổi họp quân chính đại đội. Khi đại trưởng hoặc chính trị viên muốn khao các B thì hỏi liên lạc:” Này thằng em! Thuốc rê còn hay hết?” Thế là liên lạc nhanh nhảu ngay:” Còn anh ạ!” rồi mang ra tất cả phì phèo. Còn nếu hỏi ngược lại rằng” hết hay còn?” thì câu trả lời bao giờ cũng là “Dạ đã hết!”. Tất nhiên trong bồng bao giờ cũng phải còn một bịch nữa dành cho những lúc anh em nhà nó lên cơn vật. Tôi cũng tập toẹ hút thuốc từ dạo đó. Hồi đầu mỗi tháng được hai gói thuốc Mai, Đà lạt, Lao động hay Vàm cỏ, tôi đều cho đi hết. Sau này đến cả thuốc rê Tây ninh đắng nghét hôi xì cũng chẳng từ. Điếu thuốc rê sâu kèn, quận bằng báo Quân đội nhân dân hoặc bằng lá cò ke còn một tý tóp cũng giắt lên vách, phòng khi cơ nhỡ mang ra xài tạm. Mỗi lần có nhu yếu phẩm ở nước sang là cả một ngày hội đúng nghĩa. Trà B’lao (lính gọi là trà Bố láo), thuốc lá bao các loại, đường và sữa…Đục mấy hộp sữa ra, láng chảo một ít mỡ, tiếp thêm một chút đường. Bắc lên bếp ngoáy đều cho đến khi quánh lại. Đổ ra vung xoong quân dụng cán phẳng rồi dùng dao cắt thành những miếng vuông đều nhau. Thế là xong món kẹo. Ca inox Mỹ cho trà vào,số lượng không hạn chế sau đó úp ngược cái bình tông nhựa vừa khít đầy nước sôi lên trên. Thế là xong món trà quắt lưỡi. Quanh cái bàn dã chiến với những món “ thời trân” đó, những câu chuyện của lính bất tận liên tu…Trà trong bát hết lại nhấc bình toong lên một chút, Nước lại chảy xuống ca. Chuyện chán thì quay ra bôi bác nhau hoặc bôi bác tỉnh nọ tỉnh kia. Những câu chuyện vui về các miền quê trên khắp đất nước truyền từ đời lính nọ sang đời lính kia, mà chắc bây giờ vẫn lưu truyền trong quân ngũ. Lính Hải hưng chê lính Thanh Hoá “ăn rau má, phá đường tàu- khu 4 đuổi ra- khu 3 đuổi vào - đuổi sang nước Lào- Lào không thèm nhận- biết thân biết phận - lập quốc gia riêng- thủ đô thiêng liêng – là vùng Nông Cống –bài ca truyền thống- dô tá dô tà….”. Lính tỉnh Thanh đốp lại dân Hải Hưng là loại đội nón cho chó. “Nước lụt tháng 3, ngồi trên nóc nhà hát bài ca hy vọng…”. Chuyện này bắt đầu là vì hồi nước lụt năm 1971. có gia đình ở Hải hưng leo lên nóc nhà. Khi trực thăng bay qua thả bánh mỳ cứu trợ thì ông bố nhanh trí giằng nón đội cho con chó để lấy thêm một suất nữa…Những chuyện vô thưởng vô phạt như thế mà đôi khi máu đồng bào nổi lên là quay ra táng nhau ngay. Tỉnh nào cũng có ”thành tích” nhưng khốn khổ nhất vẫn là Nghệ an và Thái bình…Ghét nhau tức nhau lúc ấy thôi nhưng khi lâm trận mới thấy liền như ruột thịt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét