Một lần, cả lũ nhân viên của phòng hậu cần chúng tôi được cử đi nhận dầu Diesel tại căn cứ Sóng thần. D29 có nhiều xe bồn loại 4000 lít, 6000 lít nhưng chỉ có 1 chiếc 11.000 lít là chiếc xe cũ của Mỹ. Chúng tôi lên từ chiều hôm trước. Sáng hôm sau làm thủ tục nhận 11.000 lít dầu. Máy bơm không có, mấy thằng thay nhau bơm tay từ sáng đến quá trưa mới đủ số lượng. Cánh tay thằng nào, thằng ấy mỏi rã rời. Khoảng 3,4 chiều xe mới ra đến xa lộ Đại hàn. Anh lái xe gạ :
- Làm trận " cầy tơ bảy món " chứ chúng mày?
Đang đói và mệt, nghe đến nhậu mắt thằng nào thằng ấy rạng rỡ như " những ánh sao đêm ". Nhưng tiền thì tất cả đều " trên răng dưới... cát tút " lấy đâu ra tiền mà nhậu với chả nhẹt. Anh lái xe vừa nói vừa cười :
- Mấy thằng ngố, cứ nhậu thả dàn đi. Tao đảm bảo ngày mai sẽ giao đủ, thậm chí còn giao dư 11000 lít dầu.
Nói thực hiện ngay đi đôi với làm. Anh gọi chủ quán xách " can " tháo luôn 5,6 can đầy. Cả lũ nhậu nhẹt mệt nghỉ. Sau khi ăn uống đã đời. Anh cho xe chạy một đoạn chừng vài chục cây số. Đến khu rừng cao su ven đường thì dừng xe.
- Thôi, đêm nay chúng ta nghỉ tại đây.
Chúng tôi nằm ngủ ngổn ngang ngay trên đường quốc lộ. Nằm cạnh anh lái xe, anh giải thích để tôi yên tâm:
- Cả ngày phơi nắng, xe dầu này nó nở ra cả trăm lít. Mình có bán tí chút cũng chẳng " nhằm nhò " gì. Bây giờ đừng về sư đoàn vội. Về sớm, sáng mai giao hàng dầu nó hao. Ngày mai mình chạy về đến nhà vào tầm quá trưa, dầu nó lại nở ra. Giao có dư luôn.
Bài học đầu tiên của ngành " hậu cần " với tôi là như vậy. Quả nhiên, chiều hôm sau chúng tôi giao hàng đầy đủ. Dầu không thiếu một giọt. Tóm lại khi nhận xăng dầu thì phải nhận hàng từ sáng sớm, giao hàng thì phải giao buổi chiều.
Rồi thì những tháng ngày vô vị nằm tại cứ Trảng lớn cũng đã trôi qua.
Ngày Chủ nhật 17.06.1979 tôi được lệnh đi tiền phương. Lâu lắm rồi bây giờ mới lại được cầm khẩu súng trên tay, dù chỉ là khẩu AK nhỏ bé. Một chút bồi hồi, một chút lạ lẫm. Xe D29 đón chúng tôi, trên xe toàn là cán bộ chiến sỹ của các phòng ban và lính D29 lên tiền phương. Các anh chắc đi đi về về nhiều lần nên không thấy lạ chứ còn tôi thì có đôi chút hồi hộp. Hôm qua tôi đã đi mua sắm cho mình đầy đủ mọi thứ cần thiết, tất cả cho hết vào chiếc thùng gỗ đựng đạn B40. Đúng là lính sư đoàn đi chiến trường cũng khác với lính trận. Lính trận càng gọn nhẹ bao nhiêu thì lính " kiểng " càng kềnh càng bấy nhiêu. Thử xem trong thùng gỗ B40 mang theo những gì?
- Quần áo dài, quần áo lót : 2, 3 bộ ( lính chốt chỉ có nhất bộ ).
- Xà bông thơm, xà bông giặt ( quá xa xỉ với lính chốt )
- Giấy viết vài tập, bút bi vài chiếc..
- Nilon, tăng võng...đầy đủ.
và nhiều thứ khác.
Trên xe các anh cũng toàn mang thùng gỗ, thùng tôn chứ rất ít người mang ba lô. Xe chạy qua nhưng địa danh mang bao kỷ niệm đối với tôi. Mộc bài, ba vét... kia rồi ngã tư Rừng Sở, Chi Phu, cầu Tà Yên những địa danh thấm máu biết bao đồng đội. Nhìn hai chiếc T54 bị bắn cháy, màu đỏ gạch cua nằm gục nòng bên cạnh cầu Prasaut tôi chợt nhớ đến câu chuyện " đổi hai xe lấy một mã " vang khắp sư đoàn của Trung đoàn trưởng trung đoàn tôi vài tháng trước. Đường xóc kinh khủng mãi đến tối mịt, chúng tôi mới đến PhnomPenh. Xe nghỉ lại tại một căn nhà nhỏ hai tầng rất đẹp cạnh cầu " Sập ". PhnomPenh đã hồi sinh, điện nước đầy đủ. Ban đêm, thành phố hoàn toàn yên tĩnh. Tôi mắc mùng trên ban công lầu hai để ngủ. Đêm an toàn nhưng phải cái rất nhiều muỗi.
Xe chạy theo lộ 5 hướng thị xã Congpongchnang thẳng tiến. Dọc đường, thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp những chiếc xe quân sự cháy đen nằm chỏng chơ ven đường. Đoạn dốc gần ngã tư rừng dừa, có tới 5, 6 chiếc T54, T59 của ta cháy đen thui. Đến ngã tư rừng dừa, chúng tôi tạm dừng chân nghỉ uống nước. Đây là hậu cứ cũ của D29. Trong căn nhà ven đường, loáng thoáng vài ba anh bộ đội ngồi đung đưa trên cánh võng. Một anh dáng người đậm chắc đang nằm ngủ trên chiếc võng màu xanh " sĩ lâm " lạ mắt. Một anh cán bộ trong đoàn chúng tôi đến bên cạnh đập đập vào thành võng. Người đang nằm trên võng vung tay nhảy bật dậy đứng thế thủ. Nhận rõ anh cán bộ vừa đánh thức mình, người kia cười ha hả và nói một tràng tiếng Miên. Lúc ấy, qua giới thiệu, tôi mới được biết đó là thằng cha tiểu đoàn trưởng D10 Quân đội CM CPC - Khi đó, các sư đoàn của ta đều phải có nghĩa vụ xây dựng 01 tiểu đoàn cho bạn gọi là " tiểu đoàn dân vận ". Thằng cha này rất giỏi võ nghệ. Trông mặt thấy ghét. Mặt vuông, góc cạnh, tóc xoăn...phải nói là đàn ông Campuchia nhiều cha rất đẹp trai, công bằng mà nói là ăn đứt anh em mình chỉ tội da đen và tóc xoăn tít thôi. Gặp thằng cha này ở ngoài mặt trận, chắc nó lãnh đủ ...cả băng.
Xe chạy đến thị xã vào lúc quá trưa. Một thị xã nhỏ đẹp nằm nép mình ven bờ tonlesap.
Chạy miết luôn qua thị xã không dừng lại. Đi khoảng vài cây số, chiếc xe rẽ vào con đường lát bê tông chạy êm ru. Bộ tư lệnh tiền phương của sư đoàn nằm xung quanh khu vực sân bay Kampongchhnang.
Đây là một sân bay quân sự lớn do Trung quốc giúp PônPốt xây dựng đang trong thời kỳ hoàn thiện. Đường băng chạy dọc theo hướng bắc - nam. Toàn bộ khu vực phía nam của sân bay tựa vào dãy núi cao chừng 200 mét. Phía đông là khu vực trú quân của 3 phòng ( Tham mưu - Chính trị - Hậu cần ). Phòng tham mưu ăn ở khang trang nhất nằm ngay ngoài cùng ( chắc khu này là dành cho phi công và chỉ huy sân bay ), kế đến là phòng hậu cần, gần cạnh đường băng là phòng chính trị. D29 ở ngay đầu đường băng. Lính có câu : " Ăn hậu cần, nằm tham mưu, lên sao chính trị " chẳng sai tẹo nào. Phía tây đường băng là các đơn vị trực thuộc lần lượt D10 ( dân vận - sau một thời gian thì giải tán), D26 ( thông tin ), D27 ( trinh sát ). Sát đường băng phía đông cạnh đài chỉ huy là trại tù binh.
Tôi về phòng hậu cần, do thiếu tá ( sau đó lên trung tá ) Nguyễn Do ( Mười Do ) làm trưởng phòng.
Công việc ở tại tiền phương này chẳng có gì cố định. Khi thì xuống các trung đoàn lấy số liệu tiện xe chở luôn mấy tử sĩ về sư, khi thì đi chốt của phòng ở các điểm chốt như ngoài thị xã, trên thị trấn Pôlây, Cô cháp, Tà lia, chùa Lông chó.... ( mà tôi cũng chẳng biết tại sao chúng tôi đặt tên là chùa Lông chó nữa ). Nhiệm vụ quan trọng nữa là tổ chức, kết hợp cùng với dân đánh cá trên sông Tônlêsap và biển hồ để cung cấp thực phẩm cho bộ đội. Do có những chốt như vậy, việc chúng tôi chạm và đấu súng với Pốt là chuyện đương nhiên. Hóa ra làm lính " kiểng " trên sư cũng chẳng an toàn lắm.
Sau khi nghỉ ngơi mấy ngày, tôi được lệnh cùng với một xe của D29 chở đạn và gạo lên tiếp tế cho chốt Pôlây. Cùng đi với tôi có Đức ( tức Đức cối ), Tâm cả hai đều là dân Thanh Hoá. Chúng tôi chuẩn bị súng ống, đạn dược đầy đủ. Con đường lộ 5 từ sân bay lên Pô lây thật vắng vẻ, ít xe cộ qua lại. Tất cả cầu cống trên đường đều có chốt của F15. Xe chạy không nhanh lắm vì đường rất xấu. Anh lái xe bảo chúng tôi phải giao hàng nhanh để còn về sớm, cứ quá 2 giờ chiều vẫn còn lang thang trên đường dễ bị “ phục “ lắm. Chúng tôi lên tới thị trấn, xe rẽ phải vào một con đường nhỏ hướng ra phía Biển Hồ. Đường hẹp và khó đi, xe len lỏi luồn lách qua những rặng cây loà xoà. Một ngôi chùa nhỏ nằm ngay ven đường, đứng trên thùng xe, tôi nhìn thấy trong gian chính ngôi chùa chứa đầy ắp sọ người. Tôi thoáng nghĩ đây chỉ mới là một thị trấn nhỏ mà số người chết dưới chế độ Pôn Pốt còn nhiều như thế này, nếu cả đất nước CPC thì số lượng người chết còn khủng khiếp tới đâu !!!? Xe đi tới khu vực Biển hồ, chốt của đơn vị tôi nằm ngay trên sông. Tôi giương AK bắn ba phát súng báo hiệu là xe chúng tôi đã tới. Một lát sau, một chiếc xuồng ra đón chúng tôi. Anh em trong chốt đã cho cả người ra canh giữ xe ô tô cẩn thận. Chúng tôi chuyển súng đạn, gạo, nhu yếu phẩm xuống xuồng và cùng đi ra chốt.
Chốt trên sông - một trận địa chốt hoàn toàn mới và lạ đối với tôi. Đó là hai, ba chiếc nhà bè được ghép lại. Nhà làm bằng gỗ, mái lợp tôn. Nhà tương đối rộng rãi, thoáng mát. Cả chốt ước chừng một trung đội “ cứng “. Ở đây, hoàn toàn bất ngờ tôi gặp lại Lợi “ Bọ “ người cùng huấn luyện ở ngoài 308 với tôi, hiện nay phụ trách tại đây. Chốt trang bị hoả lực mạnh : một 12.8 ly, một cối 60, một RPD, một B40 và còn lại là AK, AR15... anh em toàn bộ là thương binh nhưng chưa được xếp hạng thương tật hoặc xếp hạng rồi nhưng chưa đủ điều kiện ra Bắc. Lợi, Vân, Sơn, Mạnh Đạt.... toàn những lính đã từng chinh chiến cả. Sau bữa cơm trưa rất thịnh soạn gồm các món toàn làm từ cá tươi ( bọn ở chốt này không bao giờ phải lo đến thực phẩm ), Mạnh Đạt ( Thái lọ ) nguyên lính thông tin hữu tuyến của E2 vui vẻ giới thiệu với tôi về chốt của chúng nó qua mấy câu thơ tự viết :
“ Chúng tôi ở trên sông
Nơi có những cánh rừng ngập trong lòng nước
Con chim có nhiều nhưng không làm tổ được
Lũ giặc rình mò, cái chết ở bên trong
Chúng tôi ở trên sông
Nơi có những chiều thuyền về đầy cá
Cô gái Khơ me ửng hồng đôi má
Gọi tên chúng tôi, anh Coong tóp Việt nam
Khi mây lặng trời êm
Chiếc Ca nô nhẹ lướt
Có những lúc sông giận mình mấy lượt
Là khi mây đen giăng đầy trời
.....
Toàn con trai nhưng rất yêu nhau
Đứa nào cũng đòi lên cạn
Nhưng chẳng bù cho mùa hạn
Đi mấy lần đã ngại đau chân.......... “
Nơi có những cánh rừng ngập trong lòng nước
Con chim có nhiều nhưng không làm tổ được
Lũ giặc rình mò, cái chết ở bên trong
Chúng tôi ở trên sông
Nơi có những chiều thuyền về đầy cá
Cô gái Khơ me ửng hồng đôi má
Gọi tên chúng tôi, anh Coong tóp Việt nam
Khi mây lặng trời êm
Chiếc Ca nô nhẹ lướt
Có những lúc sông giận mình mấy lượt
Là khi mây đen giăng đầy trời
.....
Toàn con trai nhưng rất yêu nhau
Đứa nào cũng đòi lên cạn
Nhưng chẳng bù cho mùa hạn
Đi mấy lần đã ngại đau chân.......... “
Chẳng là chốt cách thị trấn Pô lây rất xa, nếu mùa nước nổi thì còn có xuồng đưa đến sát thị trấn. Mùa khô, nước rút ra xa, muốn đi chơi Pôlây phải “ cuốc bộ “ xái cẳng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét