Trang

Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010

Tổ tam tam - Lê Thế Thọ (P3)

Sáng sớm hôm sau, sau khi ăn xong bữa sáng tôi rủ Long và Minh đi ra ngoài chơi. Ba thằng chúng tôi theo sự chỉ dẫn của mấy ông lính ở trong binh trạm, lần theo lối " cửa mở " chui rào thoát được ra ngoài. ( " cửa mở " là từ ngữ chỉ những lối mòn xuyên qua các lớp hàng rào kẽm gai, bãi mìn do lính tráng muốn ra ngoài tự mở lấy ). Ngã ba Tam hiệp lèo tèo vài ba quán xá, nhiều nhất là nước mía đá, nhưng chiếc xe đẩy bán nước mía giăng hàng bán ở khắp nơi. Tôi mua ba bịch nước mía đá cho ba đứa. Chà chà, ngọt và mát lịm. Lần đầu tiên tôi được uống nước mía như thế này. Lúc ấy, ở ngoài Bắc làm gì đã có. Và bánh mỳ kẹt thịt, những chiếc bánh nhỏ thôi nhưng nóng giòn và thơm ngon vô cùng. Ba đưa chúng tôi cái gì cũng ăn, cũng thử. Ngon và lạ miệng, ở ngoài Bắc đang phải ăn bo bo, cơm độn. Vào đây sẵn tiền của gia đình vừa " tắc tế " ba chúng tôi tự cho phép mình xả láng đôi chút trước khi bước vào cái tương lai mà chẳng thằng nào đoán định trước được.
Tôi nhìn thấy những chiếc xe lam, xe ô tô loại Daihatsu nhỏ chở khách, trên thành xe đề tuyến Tam hiệp - Sài gòn. Không phải suy nghĩ gì lâu la, tôi nhanh chóng ra quyết định: Lên xe. Chỉ khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã có mặt tại Ngã tư Hàng Xanh. Sài gòn đây rồi, thành phố Hồ chí Minh đây rồi. Ba chúng tôi lang thang đi bộ, tôi tạt vào bưu điện Hàng Xanh gửi một bức điện về báo cho gia đình là tôi đã vào đến nơi an toàn. Thằng Minh, thằng Long chẳng thấy chúng nó gửi thư từ hay điện đóm gì cả. Thậm chí, chúng nó còn đứng ở ngoài chờ tôi mà chẳng thèm vào. Thôi kệ chúng mày.
Sở thú, đại sứ quán Mỹ, dinh độc lập .. chúng tôi cứ lang thang đi bộ, ngắm nghía ngước nhìn, trông chẳng khác gì " bò đội nón ". Rồi buổi trưa, cũng lại chễm chệ vào một nhà hàng, tôi nhớ không nhầm thì nó ở góc đường Đồng khởi và Sương Nguyệt Ánh bây giờ. Cũng khăn dải bàn trắng muốt, cũng ghế dựa đàng hoàng như ai.
- Cho xin ba tô hủ tiếu . Tôi dõng dạc gọi.
Cũng lại lần đầu tiên được ăn hủ tiếu. Là lạ, ngon ngon. Vèo một cái, ba tô hủ tiếu chui tọt vào ba cái dạ dày đang sôi lên sùng sục vì đói. Chẳng bõ bèn gì nhưng chẳng nhẽ lại gọi mỗi thằng thêm... ba bát nữa. Ngượng chết.
Ba chú bộ đội, sao tiết chỉnh tề, quân hàm " chuẩn tướng " lại tiếp tục lang thang cho đến nửa buổi chiều rồi quay về ngã ba Tam Hiệp. Với tinh thần tiến công liên tục như lời hứa trước Bộ tư lệnh sư đoàn bữa trước, vừa nhìn thấy quán có tấm biển đề : " A, xin mời Cầy tơ bảy món " ở ngay xế cổng binh trạm. Tôi liền cùng hai chiến hữu lập tức xung phong. Ra khỏi quán, trời đã nhập nhoạng tối. Chúng tôi " chân nam đá chân siêu " loạng choạng trở về căn cứ.

Ngày hôm sau, 23.05.1978. vừa ăn sáng xong chúng tôi đã thấy một đoàn xe ca sơn vàng đỏ tím xanh tiến vào binh trạm. Binh trạm thông báo cho đoàn tân binh chúng tôi hôm nay sẽ về đơn vị mới, tất cả không được đi đâu. Đang định rủ rê chúng nó “ đột rào “ ra ngoài để đi Sè goòng lần nữa Thế là phèo ! Trong túi tôi vẫn còn hơn 40 đồng nữa ( Ngày ấy, 40 đồng là to đấy các bạn ạ. Lương trung uý chỉ có 75 đồng thôi ). Cả ngày hôm qua, cả ba thằng mới tiêu hết có hơn 30 đồng.

Chúng tôi chuẩn bị ba lô, quân tư trang sẵn sàng để lên đường. Buổi sáng các sư đoàn 7, 341 lấy quân trước. Cuộc chia tay diễn ra vô cùng bịn rịn, cảm động. Giữa tân binh với nhau, giữa tân binh với cán bộ khung F308 dẫn quân đi. Xin chào các anh nhé, các anh trở lại xứ Bắc quê hương thân yêu, còn chúng tôi, những người ở lại chưa biết sẽ có những gì chờ đợi ở phía trước. Trong khu vực doanh trại vang lên tiếng hát : “ Chúng tôi, người chiến sỹ sư đoàn tự hào thay hai tiếng Tiên phong, đâu có ngại ngùng chi gian khó....” Những cái bắt tay, những cái ôm... tôi với anh dù đã quen hay vẫn còn lạ nhưng không sao, chúng ta đều là lính của Quân Tiên phong cả mà.

Chúng tôi tranh thủ bắt chuyện làm quen với anh em đến nhận quân. Thôi thì đủ các thứ chuyện về cuộc chiến đang ngày đêm diễn ra tại chiến hào biên giới. Nào là vào đấy chúng mày phải hết sức cẩn thận, có thằng đi đái đêm cũng vấp phải mìn lá, cụt cẳng dễ như chơi. Nào chuyện lính có kinh nghiệm chiến đấu thì đã giải quyết cho ra quân hết rồi, còn lại toàn bọn ú a ú ớ như chúng mày vào trận cứ lơ ngơ như “ bò đội nón “. Bắn B40, B41 xong lại cứ nhìn loanh quanh để tìm nhặt cắt tút vv.. và vv. Có những chuyện thật, nhưng cũng có những chuyên mà chúng tôi biết chắc là các bố bịa ra để “ doạ “ chúng tôi. Tôi chẳng thấy ông nào ở trại chăn nuôi bò hay nông trường trồng lúa đến nhận chúng tôi về để đi vắt sữa hoặc đi cày cả. Tất cả sẽ phải rồi sẽ phải lao ra mặt trận. Hết rồi nhé Thọ ơi, Minh ơi, Long ơi đừng có tơ tưởng hão huyền nữa.

Sau bữa cơm trưa vội vàng, lũ tân binh còn lại tập trung nghe đọc danh sách. Thằng về E1, thằng về E2, thằng về E3. Lại chia tay, lại bịn dịn. Khoảng hơn 2 giờ chiều, chúng tôi lên xe để về đơn vị mới. Ngồi trên xe, tôi ngắm nhìn cảnh vật làng quê miền nam qua ô cửa sổ. Những luỹ tre làng ở miền bắc quê tôi được thay bằng những hàng dừa xanh ngăn ngắt. Cũng trời xanh mây trắng, cũng những cánh đồng lúa xanh mát êm đềm. Xa xa, chóp núi Bà Đen màu xanh sám loáng ẩn hiện trông giống hệt chiếc bát B52 úp ngược. Đất nước thật thanh bình và đẹp. Những người nông dân đang làm đồng ven lộ nhìn thấy đoàn xe của chúng tôi, họ ngẩng mặt lên nhìn rồi lại cúi xuống chăm chú làm việc, cũng đôi khi có những cánh tay đưa lên vẫy vẫy. Liệu rằng có ai trong số họ biết chúng tôi đang đi đâu không nhỉ? Nghĩ đến cái cảnh đất nước thanh bình, phong cảnh tươi đẹp vô cùng mà mình thì đang lao vào chỗ chết, tôi thấy dâng lên một cảm giác nghèn nghẹn, một chút chát đắng trong lòng, thật chẳng thích thú chút nào.

Xe vẫn chạy, đoạn đường từ thị trấn Trảng Bàng trở đi, đường bắt đầu xóc kinh khủng. Lính tráng ngủ ngà ngật, không khí trên xe nóng nực và ngột ngạt vô cùng. Tôi vẫn không hề chợp mắt. Tôi nhớ nhà, nhớ Hà nội thân yêu của tôi, nơi mà bây giờ đã cách xa gần hai nghìn cây số. Cái khoảng cách đơn thuần vật lý ấy sao đối với tôi nó xa xôi đến vậy. Mới ngày nào, tôi và bọn cùng lớp còn chốn học để ra bãi cát sông Hồng đùa nghịch, sang tận bờ đê bên Gia lâm xem máy bay cất hạ cánh... Thế mà bây giờ, mỗi đứa mỗi nơi, tất cả đã cách xa, xa lắm rồi. Nhớ ngày mới bước vào quân ngũ, tôi vẫn hồn nhiên viết rằng :

“ Ba năm lính không dài đâu em nhé
Nó trôi qua như giấc ngủ trưa hè
Mặt hồ Tây chưa kịp thay ngọn sóng
Anh đã về, cô bé có tin không? “

Nhưng có lẽ, vào lúc này đây cái niềm tin hồn nhiên ấy đã bắt đầu lung lay, bắt đầu thay đổi. Có lẽ cuộc chiến đấu đang chờ đợi tôi ở phía trước không thể nào kết thúc trong ngày một ngày hai. Xung đột biên giới , ai mà biết nó kéo dài đến bao giờ?

Hơn 5 giờ chiều, chúng tôi đã đến nơi. Tôi cũng không hiểu mình đang ở đâu . Một xóm nhỏ bé vắng vẻ, không một bóng người dân. Đó đây, chỉ thấy toàn lính là lính. Tôi, Minh, Long được hướng dẫn vào tạm trú trong một ngôi nhà gạch, mái ngói, sàn lát gạch hoa bóng lộn. Mùi ẩm thấp sực lên chứng tỏ đã từ lâu nhà không hề có người ở. Trong nhà không có một chút đồ đạc nào ngoài chiếc bàn thờ ở chính giữa. Thằng Minh lên tiếng :

- Chắc dân ở đây chạy hết rồi chúng mày ạ.

Tôi và thằng Long đi quanh nhà xem xét. Ngước nhìn lên phía trên bàn thờ, một bức tranh rất lớn vẽ một con mắt toả ánh hào quang rực rỡ lồng trong khung kính, treo trang nghiêm ở giữa. Bức tường bên tay phải có một tấm bằng dạng như huân chương, trong đó có ghi : Đại đạo tam kỳ phổ độ và địa danh nơi chúng tôi đang đứng chân ( tôi đoán như vậy ). Xã Tân Thuận ( hay Tam thuận tôi nhớ không chắc lắm ), huyện Bến Cầu, Tỉnh Tây Ninh. À, thì ra chúng tôi đang ở đây. Thằng Long xem xét chăm chú một bức tranh treo trên tường rồi bảo :

- Này, Đạo này thờ cả Tôn Ngộ Không chúng mày ạ.

Một bức tranh thờ cỡ nhỏ, vẽ rất nhiều nhân vật. Từ Đức Phật thích ca mâu ni, Phật Bà quan Âm... và có cả Tề thiên đại thánh đang vung cây gậy như ý. Có lẽ đúng như thằng Long nói.

Thằng Long nhanh chóng tìm được cái giếng, nước trong và mát. Cái thằng này cứ củ lẩn cù lần cả ngày chẳng nói lấy một câu, nhưng được cái rất chu đáo. Trong khi tôi và thằng Minh cứ lang thang xem xét vớ vẩn thì nó lo mượn chổi ở tận đâu mang về quét dọn nhà sạch sẽ. Giăng mắc dây phơi quần áo cho chúng tôi cần thận. Đúng là Long “ thần sầu “.

- Thôi, tất cả đi tắm giặt đi. Thằng Long ra lệnh. Tất nhiên là “ tuân chỉ “ rồi. Tắm táp xong xuôi, cái mệt nhọc phần nào đã trôi bớt đi theo dòng nước mát. Chúng tôi dải chiếu nằm kềnh ra giữa nền đá hoa mát rượi

Một anh lính cũ sang gọi chúng tôi đi ăn cơm chiều. Bữa cơm đầu tiên trong đời lính chiến thật không nuốt nổi. Cơm thì vừa hôi, vừa vàng khè, thức ăn chẳng có gì ngoài đĩa rau muống luộc vừa sống, vừa già. Thêm một đĩa nhỏ là đĩa tép rang mặt chát. Vừa trải qua một ngày mệt mỏi, cộng thêm nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ bạn bè do vậy tôi không thể nào ăn hết được bát cơm. Ăn cơm xong, trời vừa tối. Chúng tôi trở về căn nhà trú quân, trong nhà vo ve đầy muỗi. Mặc dù ở đây không phải là Đồng Tháp Mười “ muỗi nhiều như trấu vãi, đỉa nhiều như bánh canh “ mà Nguyễn Sáng đã từng mô tả trong các truyện ngắn của mình, nhưng đối với chúng tôi, những thằng lính Hà nội mới chân ướt chân ráo vào đây đã là quá khủng khiếp. Giặc đâu chưa thấy nhưng chúng tôi đã phải chiến đấu với bọn giặc muỗi khốn kiếp này cái đã. Một anh lính cũ thấy chúng tôi loay ha loay hoay mắc màn khi trời mới vừa tắt nắng, liền phì cười :

- Sao tụi bây đi ngủ sớm “ dậy “ ?

- Chúng em thấy muỗi nhiều quá nên tìm cách mắc màn thôi chứ ngủ nghê nỗi gì. Thằng Minh mau mắn trả lời.

Anh liền bày cho chúng tôi ra ngoài vườn vơ một búi rơm và bẻ thêm một ít lá tươi, tất cả được đặt ngay trên vỉa hè ngôi nhà, cạnh chiếc cửa ra vào rồi đốt. Một làn khói đặc quoánh bốc lên xua đuổi những đàn muỗi hung hãn ra xa. Anh em ngồi vui vẻ trò chuyện trong cái làn khói mờ mịt ấy.
Đêm ấy, chúng tôi ngủ rất ngon giấc mặc dù thỉnh thoảng trong đêm khuya, tôi vẫn vẳng nghe tiếng pháo ì ùng từ tận đâu vọng lại.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét