Xe qua một chiếc cầu ngoài thị trấn một đoạn, một anh lính của F15 xin đi nhờ xe. Qua câu chuyện góp vui, chúng tôi được biết anh được đi phép nên đang tìm cách quá giang về Việt nam. Biết chúng tôi chỉ về đến thị xã nhưng anh vẫn xin đi. Được đoạn nào, hay đoạn đó.
Chiếc xe Gát chầm chậm chạy như rùa bò lên chiếc dốc Rừng xanh nằm khoảng giữa hai chiếc cầu từ Phum Tuol Roko đến Phum W. Thnna Keo, mấy thằng ngồi trên xe đang cười ngả cười nghiêng khi nghe tôi kể chuyện tiếu lâm... Vừa lên đỉnh dốc, bỗng toác.. toác... toác tiếng súng AK, AR15 nổ xung quanh như xé vải. Địch phục kích !!! Tôi xoay người lại nép mình vào góc thành xe, giương súng bắn trả. Cậu lính của F15 từ ghế băng cuối xe lao về phía tôi chúi đầu xuống như tránh đạn. Đức “ cối “, Tâm cũng bò ra sàn xe vừa tránh đạn vừa ... bắn lên trời. Anh lái xe tăng tốc miết bàn đạp ga phóng như điên như dại. Bắn hết đạn, tôi quanh sang thằng Đức hét :
- Đưa tao một băng !
- Băng bằng sắt, băng bằng sắt... Thằng Đức vừa trả lời lạc giọng, vừa lấy tay vỗ vỗ vào băng đạn.
Thì ra, tôi hét nó đưa cho tôi băng đạn, trong lúc cuống cuồng nó lại tưởng tôi bảo nó đưa cho tôi cuộn băng cứu thương nên mới có sự nhầm lẫn như vậy. Đến chiếc cầu sắt gần Phum W, Thnna Keo, chiếc xe dừng lại vì có chốt của F15 ở đó. Thôi chết rồi, tôi lại bị thương rồi. Máu phun ra ướt sũng chiếc áo lính tôi đang mặc. Nhưng sao tôi không có cảm giác đau gì nhỉ !!!? Tôi ngoái nhìn lại phía sau. Cậu lính của F15 đi nhờ đã dính một viên xiên qua thái dương, gục đầu lên vai tôi và chết tại chỗ. Thằng Tâm thì dính một viên vào ngực bên phải đang nằm thở khò khè. Tôi nhờ mấy anh em của F15 nhanh chóng băng bó cho Tâm và chúng tôi cho xe chạy nhanh về thẳng D33 nằm ngoài thị xã. Bàn giao thương binh tử sỹ xong, xe chúng tôi chạy về Sân bay. Lúc ấy mới khoảng 5.30 chiều.
Những tháng ngày cuối năm 1979 sang đầu 1980, nhiệm vụ chủ yếu của tụi lính chúng tôi vẫn là đi áp tải đạn, gạo, quân nhu cho các đơn vị ở tuyến trước. Tiện chuyến xe thì lại nhận liệt sỹ chở về. Những tuyến đuờng từ Sân bay đi xuống ga Bamnak ( chỉ huy sở E2 - của Trungsy1 ) hay theo lộ 27 xuống ga Romeas ( chỉ huy sở E1 ) là những tuyến đường " chết chóc ". Thằng nào ở trong danh sách phải đi áp tải là coi như... đi vào cửa tử. Hai bên đường toàn rừng Khộp xen lẫn cỏ tranh. Vắng lặng...vắng ngắt ... cả một đoạn dài mấy chục cây số mà cấm thấy bóng dáng chiếc xe ô tô nào cùng đi cho...đỡ sợ. Bác tài xế thì cắm đầu chạy, không nói không rằng, mặt mũi căng thẳng. Cánh cửa cabin xe bên phía tay lái bao giờ cũng chỉ khép hờ hờ. Cứ nghe Oành... là bác phi cả người ra khỏi xe mà không cần biết tiếng nổ ấy là gì. Lính tráng chốt một chỗ còn yên tâm. Nếu nó đánh vào cũng nổ súng trước, cũng còn chỗ ẩn nấp. Đằng này xe là một mục tiêu rõ ràng và duy nhất. Trên xe chỉ có mỗi khẩu AK hay AR15 đánh đấm cái giề !!!? Nhiều khi thoáng thấy bóng người lại căng thẳng hơn vì không phân biệt nổi đây là dân hay là địch??? Địch hay là " du kích "
Năm 1980, lính tráng bên K bắt đầu rơi vào tình cảnh thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng. Chúng tôi ở Hậu cần sư đoàn mà cũng đã bắt đầu phải ăn độn...đậu xanh. Lúc đầu cũng dễ ăn. Mình cứ nghĩ là giống như ngày tết, Mẹ có nấu đậu xanh để gói bánh chưng, bánh tét mà mình thó được một nắm. Đậm đậm, bùi bùi... ngon đáo để. Nhưng đến khi phải ăn trừ bữa bằng đậu xanh thì ... ớn luôn. Cũng may mà thời gian thiếu thốn ấy kéo dài không lâu.
Để tăng thêm thức ăn cho bộ đội, nhất là các đơn vị đóng gần sư đoàn. Phòng Hậu cần đã hợp tác với dân Khơme sống ven sông Tonlesap tổ chức đánh bắt cá. Dòng sông Tonlesap và Biển hồ quả là một vựa cá khổng lồ. Mùa mưa, Biển hồ dâng nước tràn lên khắp các cánh rừng ven hồ. Lũ cá thi nhau sinh sôi trong các cánh rừng ngập nước đầy ắp thức ăn. Chúng lớn nhanh như thổi. Đến mùa khô, Biển Hồ thu nhỏ lại chỉ còn 1/10 diện tích. Cá từ các cánh rừng đổ về Biển Hồ và các lạch sông. Cá tra, cá lóc trắng, lóc đen, cá hô, cá chẻm, cá chày, cá trôi... trên là trời dưới là cá. Bộ đội lập các chốt đóng ở những vị trí ngã ba các rạch sông bảo vệ địa bàn đánh bắt cá cho dân. Ăn chia theo tỷ lệ 40/60, bộ đội lấy 40 %. Trung bình mỗi tháng, chúng tôi được chia khoảng 250 tấn cá. Cá tươi cấp thẳng cho các đơn vị, cá mang về đổ ra sân bay phơi làm cá khô, làm nước mắm.... Cả đường băng sân bay Congpôngchnang ngập toàn cá lá cá.
Vậy, người dân Khme họ đánh bắt cá như thế nảo? Câu cá, quăng lưới... Không, sai hết. Họ dùng búa gỗ đóng những cây gỗ lớn xuống lòng sông. Cứ cách 5 mét đóng một cọc, đóng ngập xuống đáy lòng sông, phần trên còn nhô lên mặt nước khoảng 4,5 mét. Dùng một loại dây rừng gọi là dây Trại ( càng ngấm nước càng dai ) đan kết hợp với tre tạo thành những tấm phên lớn chặn xuống lòng sông. Cả dòng sông được ngăn lại chỉ hở ra 1, 2 cửa gọi là cửa đáy. Ở đó họ quây lưới và... xúc cá. Cá nhiều đến nỗi cứ một hai tiếng, nếu xúc không kịp thì phải xả đáy lưới ra một lần để xả cá xuống hạ lưu, kẻo cá dồn về làm rách đáy. Xúc đầy những ca nô loại lớn lại chạy vào bờ đổ lên xe của D29 chạy về sân bay. Cả đêm, chúng tôi cứ rầm rập chở cá về lên kế hoạch cung cấp cho các đơn vị, không chia hết thì đổ ra sân bay làm nước mắm và phơi khô. Cá chỉ đổ về nhiều vào các đêm từ mùng 8 âm lịch đến hết ngày 15 âm lịch là bắt đầu ít dần và chỉ đổ về đêm chứ ban ngày thì không có.
Lũ chúng tôi khi đó bữa ăn chỉ toàn cá là cá. Cá nướng, cá kho, nấu canh chua, nấu cháo cá... Thằng nào trực nhật thì quả là khố nạn vì ... cá.
Một hôm, phiên tôi trực nhật. Thằng Đạt " Thái lọ " nó đi áp tải cá mang về bắt tôi phải làm một con cá Hô nặng chừng 30 kg. Vẩy cá Hô to bằng ba ngón tay, cứng như đá. Tay tôi bị thương cầm dao không chắc nên không thể nào mổ được con cá. Cuối cùng, tôi phải bảo thằng Thanh - đồng hương Thanh trì - nó làm giúp, trầy trật mãi hai đứa mới làm được con cá cho anh em ăn. Tôi " căm " thằng Đạt lắm. Tôi chờ đến phiên thằng Đạt trực nhật, tôi và thằng Thanh đi lấy về hai bao tải toàn cá rô đuôi hồng ( một loại cá rất ngon nhưng chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay ) về bắt thằng Đạt làm. Làm suốt từ sáng đến trưa vẫn chưa hết số cá tôi và thằng Thanh mang về. Thằng Đạt ngồi dưới bếp khóc hu hu.... ( Anh em đã ra " sắc lệnh " thằng nào trực nhật phải làm hết những thứ mà anh em đi " cải thiện " được ) vừa khóc vừa chửi là hai thằng chó khố nạn... nó thù tao đây mà......
Cá nhiều quá, chúng tôi liền nghĩ đến việc đào hố, đổ cá xuống để ngâm làm nước tưới rau tăng gia. Rau muống, đậu đũa, bí xanh bí đỏ... cứ tốt ù ù nhờ được tưới thứ nước ngâm cá ấy.
Phòng Hậu cần tổ chức chăn nuôi heo, nuôi vịt. Chúng tôi cũng làm một chiếc chuồng nuôi mấy con heo. Chẳng biết giống má như thế nào mà trông đàn heo như đàn heo rừng. Con nào cũng vằn vện vàng vàng đen đen nhưng lớn nhanh như thổi. Heo ăn cám nấu với cá và rau mà. Thấy chúng tôi nuôi heo mau lớn, đại úy Ba Vinh - phó chủ nhiệm phòng Hậu cần cũng nuôi một chú. Heo của thủ trưởng cũng lớn rất mau. Muỗi thì nhiều, sợ nó đốt con heo yêu quý. Ông ba Vinh lấy luôn màn tuyn để mắc trong chuồng cho heo ngủ. Chúng tôi nhìn thấy phát ghét. Lính tráng chẳng có mùng để ngủ, đây heo của thủ trưởng lại có màn tuyn xịn để dùng. Một đêm, trong lũ chúng tôi, có thằng ( bây giờ tôi vẫn không biết là thằng nào? ) bò vào chuồng heo của thủ trưởng Ba Vinh, nổi lửa đốt chiếc màn tuyn vẫn đang mắc cho heo ngủ. Lửa cháy bùng bùng... Thủ trưởng hô tụi lính ra dập lửa. Than ôi, dập xong lửa thì chú heo của thủ trưởng cũng bị bỏng rộp, da cháy loang lổ. Thủ trưởng nhìn thấy chú heo như vậy liền ra sức cứu chữa bằng cách lấy mật ong bôi lên các vết bỏng. Báo hại cho chú heo, thấy mật ngọt, lũ kiến rừng bâu vào đốt cho kêu eng éc suốt đêm. Sang ngày thứ ba, cảm thấy không thể kéo dài được, thủ trưởng nhờ đến bọn tôi cứu chữa chú heo tội nghiệp kia bằng ... dao, bằng thớt. Lâu lắm, chúng tôi mới được bữa thịt lợn tươi ngon đến vậy.
Tháng 6/1980, sư đoàn tổ chức phát thẻ Đảng viên đợt đầu tiên. Trong số được phát thẻ đợt này có chuẩn úy Lập - chúng tôi thường gọi là anh Năm Lập - người Thái Bình - đi lính từ năm 1966/67 nhưng chẳng hiểu sao đến lúc này vẫn mang quân hàm chuẩn úy. Anh Năm Lập ở cùng với hạ sỹ Vi Văn Tởm người dân tộc Thổ - Thanh Hóa. Cả hai người phụ trách trông coi kho lúa chiến lợi phẩm do sư đoàn thu được của địch hồi đánh vào Âm leng. Kho lúa nằm ngay chân núi cạnh phòng Tham mưu sư đoàn.
Ngày 09/06/1980 anh nhận được quyết định phục viên về quê với vợ con. Thôi mừng ơi là mừng. Vốn là một tay thiện xạ nổi tiếng trong khối các cơ quan trong BTL sư đoàn, anh Năm Lập thường hay đi săn đêm. Chúng tôi ở nhà, cứ nghe tiếng súng nổ là chuẩn bị sẵn đòn khênh, dây thừng để đi khiêng thú về. Hầu như ít khi anh phải về tay không. Nhưng anh chưa về với chị được ngay vì phải đến ngày 15/06 thì đảng ủy sư đoàn mới phát thẻ đảng viên. Anh quyết định ở lại chờ nhận thẻ Đảng. Mấy chục năm còn ở đuợc nữa là chỉ còn có vài ngày !!! Vả lại không nhận thẻ Đảng bây giờ, khi trở về địa phương lại lằng nhà lằng nhằng chẳng biết đến bao giờ mới nhận được thẻ Đảng.
Ngày 15/06, sau khi dự lễ nhận thẻ Đảng đợt đầu tiên. Anh mừng vui và tuyên bố sẽ vào rừng kiếm con gì về nhậu một bữa để chia tay với anh em chúng tôi. Tối hôm đó vừa đi một lúc, chúng tôi đã nghe thấy tiếng súng bắn báo hiệu của anh. Chúng tôi đi và khiêng về một con Mễn. Vậy là nhậu tơi bời. Thịt Mễn mềm, ngọt ngon không thể nào tả đuợc. Con Mễn này đang có thai. Anh Năm Lập bèn lấy ngay cả bọc bào thai của nó cho vào nồi cháo đang sôi sùng sục. Nồi cháo hầm xương Mễn nay lại thêm bọc bào thai nên thơm ngon và sánh vô cùng. Ngọt, ngon và bổ hết sảy.
Sau khi nhận thẻ Đảng xong, anh Năm Lập cũng chưa thể về Việt nam ngay được vì chưa có xe về nước. Thời gian này, tình hình xăng dầu gặp nhiều khó khăn. Phòng Hậu cần chúng tôi được lệnh hạn chế cấp lệnh cho các chuyến xe về nước. Ngày trước, khi xăng dầu còn xông xênh chỉ cần sư đoàn có một thi hài liệt sỹ là chúng tôi cũng cấp lệnh một chuyến xe chở liệt sỹ về Việt nam. Nay tình hình có khó khăn, sư đoàn lệnh phải chờ mỗi xe chở đủ 4 liệt sỹ mới được cấp lệnh điều động xe. Mà những ngày này, liệt sỹ chưa... chết đủ nên chưa có xe về nước. ( Xin lỗi, tôi không biết dùng từ gì chính xác hơn từ chờ...chết cho đủ ) .
Ngày 16/06 anh Năm Lập lại đi săn. Lần này anh cũng nhanh chóng hạ được một con heo rừng. Chúng tôi lại nhậu và lần này con heo lại có...bầu. Trong dạ con của con heo là một bọc 5 chiếc bào thai heo bé tí xíu. Bạn đã ăn bào thai heo rán bao giờ chưa? Ngon tuyệt vời, nhất là đối với những con... sâu rượu.
Đến ngày 18/06, chúng tôi được nhận nhu yếu phẩm hàng tháng. Xà bông, đường, thuốc lá, bánh kẹo... Nhân dịp nhận nhu yếu phẩm, anh Năm lại bảo đi kiếm cái gì về nhậu chơi. Nếu săn được sẽ bảo thằng Tởm xuống gọi chúng tôi lên để nhậu. Nhưng hôm đó chúng tôi chẳng thấy ai gọi lên kho lúa để nhậu cả. Chắc hôm nay anh Năm về không rồi.
Chiều hôm sau, 19/06 thằng Tởm hớt hải chạy xuống báo cho chúng tôi biết : Cả đêm qua, anh Năm đi săn không thấy về. Hóa ra đêm qua khi thấy anh Năm không về, thằng Tởm một mình một súng đã vào rừng đi tìm anh Năm. Thỉnh thoảng nó lại bắn mấy viên đạn lửa vạch đường để báo cho anh Năm nhưng chẳng thấy gì. Sáng nay, nó lại một mình vào rừng tìm tiếp cũng chẳng thấy nên bây giờ mới xuống báo cho chúng tôi. Phòng tham Mưu liền điều vệ binh sư đoàn, D27 trinh sát kết hợp cúng chúng tôi vào rừng tìm anh Năm. Đến tận chiều ngày hôm sau 20/06, chúng tôi mới tìm thấy anh Năm Lập nằm vắt người trên con đường mòn dành cho xe bò đi trong rừng cách sư đoàn bộ chừng hơn ba cây số.
Anh Năm đã dính phải lựu đạn gài, người nằm úp sấp. Súng và tư trang cá nhân không còn gì. Mới có hai ngày mà người anh Năm đã trương lên bốc mùi nồng nặc. Anh lại bị Kỳ đà nó gặm nham nhở cả mặt mũi, chân tay trông rất sợ. Tôi, Tởm và Chung " Mập " khiêng anh Năm về mà lòng đau đớn vô cùng. Thật thương cho anh, anh ra đi mà không được hưởng quyền lợi gì cả. Anh đã bị cắt quân số từ ngày mùng 9/06 lại chết trong hoàn cảnh như vậy nên vợ con chẳng được hưởng tiêu chuẩn Liệt sỹ. Tôi là người được cử ra để cùng với tổ khám nghiệm tử thi lập biên bản. Thật kỳ lạ, trong hòm đạn B40 đựng tư trang cá nhân. Chúng tôi thấy anh đang viết dở dang khoảng 10 lá thư. Thư cho vợ, thư cho con gái, con trai, thư cho bố mẹ nuôi, thư cho ban bè.... nhưng tất cả đều viết dở, không có lá nào viết trọn vẹn. Tất cả đều đề ngày 18/06/1980. Anh Năm Lập về nước ngay ngày hôm sau, trên xe đã có đủ 4 thi hài liệt sỹ.