1. Học đi đôi với hành, hành đi đôi với tỏi
2. Nhà sạch thì mát. Bát sạch tốn nước rửa bát!
3. Không có phụ nữ xấu, chỉ có phụ nữ... tự làm đẹp cho mình
4. Thật ra có rất ít phụ nữ đẹp. Không phải vì phụ nữ không biết làm đẹp mà vì họ làm hoài mà...vẫn không đẹp
5. Tôi có thể cưỡng lại tất cả mọi thứ ... trừ sự cám dỗ
6. Khi ta hướng tới mặt trời...bóng tối sẽ khuất sau lưng!
7. Một dòng sông mà chia làm 2 nhánh có nghĩa là......nó bị tõe làm 2 nhánh
8. Khi có con mèo đen đi qua trước mặt bạn thì điều đó có nghĩa là nó đang đi đâu đó.
9. Học, học nữa, học mãi, đúp... học tiếp!
10. Bọn này đúng là càng lớn càng ... nhiều tuổi.
11. Hãy sống để được chết một lần.
12. Quân tử nhất ngôn là quân tử dại. Quân tử nhai đi nhai lại là quân tử khôn.
13. Bầu ơi thương lấy bí cùng, mai sau có lúc... nấu chung một nồi.
14. Trèo cao ngã đau. Trèo thấp ngã cũng đau.
15. Cá không ăn muối cá ươn, con không ăn muối.....thiếu iot rồi con ơi.
16. Không mày đố thầy dạy ai.
17. Con đường tới vinh quang không có dấu chân của kẻ lười biếng vì kẻ lười biếng thì làm quái gì chịu đi bộ mà có dấu chân.
18. Học là để hiểu
Không hiểu thì phải hỏi
Đã hỏi thì phải hiểu
Không hiểu thì ... đừng hỏi!
19. Một điểm cũng là thầy nửa điểm cũng là thầy!!
20. Thuận vợ thuận chồng , con đông mệt quá!!
21. Người ta dùng thời gian để kiếm tiền ......rồi lại dùng tiền để đốt thời gian.
22. Tiền không thành vấn đề , nhưng vấn đề là không có tiền!
Trang
Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010
Nhân viên
Năm 1986, lãnh tụ ba nước Mỹ, Liên Xô và Ru-ma-ni cùng đi một máy bay. Cả ba thi nhau xem công dân nước nào trung thành với lãnh tụ nhất.
Reagan gọi nhân viên mật vụ Secret Service của mình đến: "John! Tổng thống của anh lệnh cho anh nhảy ra khỏi chiếc máy bay này! Không được đeo dù!" John nhăn nhó: "Thưa tổng thống, tôi chịu thôi. Tôi còn vợ, còn con..."
Gorbachev nói với đại úy Alfa Ivan đang ngồi cạnh: "Đồng chí Ivan! Thay mặt Đảng và Nhà nước Liên Xô, tôi lệnh cho đồng chí nhảy ngay ra khỏi chiếc máy bay này! Không được đeo dù! Đồng chí sẽ được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô Viết!" Ivan gãi đầu gãi tai: "Báo cáo Mikhail Sergeyevich, tôi xin chịu kỷ luật, nhưng tôi không nhảy đâu. Tôi còn vợ, còn con..."
Đến lượt Ceaucescu, ông này vẫy đặc vụ Securitate Ion tới. "Ion! Nhảy ra khỏi máy bay! Không đeo dù!" Ion hô to "Rõ! Người anh hùng núi Carpat muôn năm!" rồi lao vọt ra cửa máy bay. Há hốc mồm, Reagan và Gorbachev chỉ kịp nháy mắt cho John và Ivan tung mình giữ Ion lại. "Sao anh lại nhảy, anh điên à?"
Ion mếu máo: "Tôi làm sao không nhảy được cơ chứ? Tôi còn vợ, còn con..."
Reagan gọi nhân viên mật vụ Secret Service của mình đến: "John! Tổng thống của anh lệnh cho anh nhảy ra khỏi chiếc máy bay này! Không được đeo dù!" John nhăn nhó: "Thưa tổng thống, tôi chịu thôi. Tôi còn vợ, còn con..."
Gorbachev nói với đại úy Alfa Ivan đang ngồi cạnh: "Đồng chí Ivan! Thay mặt Đảng và Nhà nước Liên Xô, tôi lệnh cho đồng chí nhảy ngay ra khỏi chiếc máy bay này! Không được đeo dù! Đồng chí sẽ được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô Viết!" Ivan gãi đầu gãi tai: "Báo cáo Mikhail Sergeyevich, tôi xin chịu kỷ luật, nhưng tôi không nhảy đâu. Tôi còn vợ, còn con..."
Đến lượt Ceaucescu, ông này vẫy đặc vụ Securitate Ion tới. "Ion! Nhảy ra khỏi máy bay! Không đeo dù!" Ion hô to "Rõ! Người anh hùng núi Carpat muôn năm!" rồi lao vọt ra cửa máy bay. Há hốc mồm, Reagan và Gorbachev chỉ kịp nháy mắt cho John và Ivan tung mình giữ Ion lại. "Sao anh lại nhảy, anh điên à?"
Ion mếu máo: "Tôi làm sao không nhảy được cơ chứ? Tôi còn vợ, còn con..."
Tham nhũng
Tại 1 lớp học trường PTCS gần Định Quán, trong giờ học địa lý. Chợt có thanh tra sở Giáo dục xuống kiểm tra.
Tý được thanh tra hỏi:
- Tại sao quả địa cầu lại nghiêng thế kia?
- Dạ, em không biết! Hình như từ đầu nó đã bị thế!
Cô hiệu phó đi cùng cừoi nịnh:
- Chắc là em nào đó nghịch, phá hư đó ạ!
Giáo viên mới được tăng cường qua dạy môn địa lầm bầm: "Bữa trước bà đưa có từng đó tiền thì làm sao mà có đồ tốt được?"
Tý được thanh tra hỏi:
- Tại sao quả địa cầu lại nghiêng thế kia?
- Dạ, em không biết! Hình như từ đầu nó đã bị thế!
Cô hiệu phó đi cùng cừoi nịnh:
- Chắc là em nào đó nghịch, phá hư đó ạ!
Giáo viên mới được tăng cường qua dạy môn địa lầm bầm: "Bữa trước bà đưa có từng đó tiền thì làm sao mà có đồ tốt được?"
Thứ Hai, 26 tháng 7, 2010
Tổ tam tam - Lê Thái Thọ (P13)
Sau khi chuyển, bàn giao xong hàng hoá, chúng tôi nhanh chóng lên đường trở về. Phải khẩn trương, kẻo về muộn sẽ không được an toàn trên đường.
Xe qua một chiếc cầu ngoài thị trấn một đoạn, một anh lính của F15 xin đi nhờ xe. Qua câu chuyện góp vui, chúng tôi được biết anh được đi phép nên đang tìm cách quá giang về Việt nam. Biết chúng tôi chỉ về đến thị xã nhưng anh vẫn xin đi. Được đoạn nào, hay đoạn đó.
Chiếc xe Gát chầm chậm chạy như rùa bò lên chiếc dốc Rừng xanh nằm khoảng giữa hai chiếc cầu từ Phum Tuol Roko đến Phum W. Thnna Keo, mấy thằng ngồi trên xe đang cười ngả cười nghiêng khi nghe tôi kể chuyện tiếu lâm... Vừa lên đỉnh dốc, bỗng toác.. toác... toác tiếng súng AK, AR15 nổ xung quanh như xé vải. Địch phục kích !!! Tôi xoay người lại nép mình vào góc thành xe, giương súng bắn trả. Cậu lính của F15 từ ghế băng cuối xe lao về phía tôi chúi đầu xuống như tránh đạn. Đức “ cối “, Tâm cũng bò ra sàn xe vừa tránh đạn vừa ... bắn lên trời. Anh lái xe tăng tốc miết bàn đạp ga phóng như điên như dại. Bắn hết đạn, tôi quanh sang thằng Đức hét :
- Đưa tao một băng !
- Băng bằng sắt, băng bằng sắt... Thằng Đức vừa trả lời lạc giọng, vừa lấy tay vỗ vỗ vào băng đạn.
Thì ra, tôi hét nó đưa cho tôi băng đạn, trong lúc cuống cuồng nó lại tưởng tôi bảo nó đưa cho tôi cuộn băng cứu thương nên mới có sự nhầm lẫn như vậy. Đến chiếc cầu sắt gần Phum W, Thnna Keo, chiếc xe dừng lại vì có chốt của F15 ở đó. Thôi chết rồi, tôi lại bị thương rồi. Máu phun ra ướt sũng chiếc áo lính tôi đang mặc. Nhưng sao tôi không có cảm giác đau gì nhỉ !!!? Tôi ngoái nhìn lại phía sau. Cậu lính của F15 đi nhờ đã dính một viên xiên qua thái dương, gục đầu lên vai tôi và chết tại chỗ. Thằng Tâm thì dính một viên vào ngực bên phải đang nằm thở khò khè. Tôi nhờ mấy anh em của F15 nhanh chóng băng bó cho Tâm và chúng tôi cho xe chạy nhanh về thẳng D33 nằm ngoài thị xã. Bàn giao thương binh tử sỹ xong, xe chúng tôi chạy về Sân bay. Lúc ấy mới khoảng 5.30 chiều.
Những tháng ngày cuối năm 1979 sang đầu 1980, nhiệm vụ chủ yếu của tụi lính chúng tôi vẫn là đi áp tải đạn, gạo, quân nhu cho các đơn vị ở tuyến trước. Tiện chuyến xe thì lại nhận liệt sỹ chở về. Những tuyến đuờng từ Sân bay đi xuống ga Bamnak ( chỉ huy sở E2 - của Trungsy1 ) hay theo lộ 27 xuống ga Romeas ( chỉ huy sở E1 ) là những tuyến đường " chết chóc ". Thằng nào ở trong danh sách phải đi áp tải là coi như... đi vào cửa tử. Hai bên đường toàn rừng Khộp xen lẫn cỏ tranh. Vắng lặng...vắng ngắt ... cả một đoạn dài mấy chục cây số mà cấm thấy bóng dáng chiếc xe ô tô nào cùng đi cho...đỡ sợ. Bác tài xế thì cắm đầu chạy, không nói không rằng, mặt mũi căng thẳng. Cánh cửa cabin xe bên phía tay lái bao giờ cũng chỉ khép hờ hờ. Cứ nghe Oành... là bác phi cả người ra khỏi xe mà không cần biết tiếng nổ ấy là gì. Lính tráng chốt một chỗ còn yên tâm. Nếu nó đánh vào cũng nổ súng trước, cũng còn chỗ ẩn nấp. Đằng này xe là một mục tiêu rõ ràng và duy nhất. Trên xe chỉ có mỗi khẩu AK hay AR15 đánh đấm cái giề !!!? Nhiều khi thoáng thấy bóng người lại căng thẳng hơn vì không phân biệt nổi đây là dân hay là địch??? Địch hay là " du kích "
Tôi dám cá một ăn mười rằng nếu cho các bạn chọn giữa làm lính chiến dưới đơn vị chiến đấu với làm lính áp tải phòng Hậu cần thì bạn sẽ chọn PHƯƠNG ÁN 1. Tuần nào cũng mang bản thân mình ra làm mục tiêu di động vài lần thì cái cảm giác ấy rất là...Yomost. Tốp người đang ngồi trên xe bò lăn bánh lộc cộc trước mặt là ... địch đấy ! Ồ, không có lẽ là dân đi làm rẫy.. Không, không phải dân đâu.. địch đấy. Trong đầu cứ luôn căng ra để ra câu hỏi và tự trả lời. Trả lời sai là... tiêu. Và nhiều anh lính trong đơn vị đã trả lời sai !!! Tôi cũng có vài lần trả lời sai nên trên người lại thêm vài ba cái sẹo nữa. He ..he..he ..Ơn trời, số tôi đẻ ra đã tên là ..Thọ.
Năm 1980, lính tráng bên K bắt đầu rơi vào tình cảnh thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng. Chúng tôi ở Hậu cần sư đoàn mà cũng đã bắt đầu phải ăn độn...đậu xanh. Lúc đầu cũng dễ ăn. Mình cứ nghĩ là giống như ngày tết, Mẹ có nấu đậu xanh để gói bánh chưng, bánh tét mà mình thó được một nắm. Đậm đậm, bùi bùi... ngon đáo để. Nhưng đến khi phải ăn trừ bữa bằng đậu xanh thì ... ớn luôn. Cũng may mà thời gian thiếu thốn ấy kéo dài không lâu.
Để tăng thêm thức ăn cho bộ đội, nhất là các đơn vị đóng gần sư đoàn. Phòng Hậu cần đã hợp tác với dân Khơme sống ven sông Tonlesap tổ chức đánh bắt cá. Dòng sông Tonlesap và Biển hồ quả là một vựa cá khổng lồ. Mùa mưa, Biển hồ dâng nước tràn lên khắp các cánh rừng ven hồ. Lũ cá thi nhau sinh sôi trong các cánh rừng ngập nước đầy ắp thức ăn. Chúng lớn nhanh như thổi. Đến mùa khô, Biển Hồ thu nhỏ lại chỉ còn 1/10 diện tích. Cá từ các cánh rừng đổ về Biển Hồ và các lạch sông. Cá tra, cá lóc trắng, lóc đen, cá hô, cá chẻm, cá chày, cá trôi... trên là trời dưới là cá. Bộ đội lập các chốt đóng ở những vị trí ngã ba các rạch sông bảo vệ địa bàn đánh bắt cá cho dân. Ăn chia theo tỷ lệ 40/60, bộ đội lấy 40 %. Trung bình mỗi tháng, chúng tôi được chia khoảng 250 tấn cá. Cá tươi cấp thẳng cho các đơn vị, cá mang về đổ ra sân bay phơi làm cá khô, làm nước mắm.... Cả đường băng sân bay Congpôngchnang ngập toàn cá lá cá.
Vậy, người dân Khme họ đánh bắt cá như thế nảo? Câu cá, quăng lưới... Không, sai hết. Họ dùng búa gỗ đóng những cây gỗ lớn xuống lòng sông. Cứ cách 5 mét đóng một cọc, đóng ngập xuống đáy lòng sông, phần trên còn nhô lên mặt nước khoảng 4,5 mét. Dùng một loại dây rừng gọi là dây Trại ( càng ngấm nước càng dai ) đan kết hợp với tre tạo thành những tấm phên lớn chặn xuống lòng sông. Cả dòng sông được ngăn lại chỉ hở ra 1, 2 cửa gọi là cửa đáy. Ở đó họ quây lưới và... xúc cá. Cá nhiều đến nỗi cứ một hai tiếng, nếu xúc không kịp thì phải xả đáy lưới ra một lần để xả cá xuống hạ lưu, kẻo cá dồn về làm rách đáy. Xúc đầy những ca nô loại lớn lại chạy vào bờ đổ lên xe của D29 chạy về sân bay. Cả đêm, chúng tôi cứ rầm rập chở cá về lên kế hoạch cung cấp cho các đơn vị, không chia hết thì đổ ra sân bay làm nước mắm và phơi khô. Cá chỉ đổ về nhiều vào các đêm từ mùng 8 âm lịch đến hết ngày 15 âm lịch là bắt đầu ít dần và chỉ đổ về đêm chứ ban ngày thì không có.
Lũ chúng tôi khi đó bữa ăn chỉ toàn cá là cá. Cá nướng, cá kho, nấu canh chua, nấu cháo cá... Thằng nào trực nhật thì quả là khố nạn vì ... cá.
Một hôm, phiên tôi trực nhật. Thằng Đạt " Thái lọ " nó đi áp tải cá mang về bắt tôi phải làm một con cá Hô nặng chừng 30 kg. Vẩy cá Hô to bằng ba ngón tay, cứng như đá. Tay tôi bị thương cầm dao không chắc nên không thể nào mổ được con cá. Cuối cùng, tôi phải bảo thằng Thanh - đồng hương Thanh trì - nó làm giúp, trầy trật mãi hai đứa mới làm được con cá cho anh em ăn. Tôi " căm " thằng Đạt lắm. Tôi chờ đến phiên thằng Đạt trực nhật, tôi và thằng Thanh đi lấy về hai bao tải toàn cá rô đuôi hồng ( một loại cá rất ngon nhưng chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay ) về bắt thằng Đạt làm. Làm suốt từ sáng đến trưa vẫn chưa hết số cá tôi và thằng Thanh mang về. Thằng Đạt ngồi dưới bếp khóc hu hu.... ( Anh em đã ra " sắc lệnh " thằng nào trực nhật phải làm hết những thứ mà anh em đi " cải thiện " được ) vừa khóc vừa chửi là hai thằng chó khố nạn... nó thù tao đây mà......
Cá nhiều quá, chúng tôi liền nghĩ đến việc đào hố, đổ cá xuống để ngâm làm nước tưới rau tăng gia. Rau muống, đậu đũa, bí xanh bí đỏ... cứ tốt ù ù nhờ được tưới thứ nước ngâm cá ấy.
Phòng Hậu cần tổ chức chăn nuôi heo, nuôi vịt. Chúng tôi cũng làm một chiếc chuồng nuôi mấy con heo. Chẳng biết giống má như thế nào mà trông đàn heo như đàn heo rừng. Con nào cũng vằn vện vàng vàng đen đen nhưng lớn nhanh như thổi. Heo ăn cám nấu với cá và rau mà. Thấy chúng tôi nuôi heo mau lớn, đại úy Ba Vinh - phó chủ nhiệm phòng Hậu cần cũng nuôi một chú. Heo của thủ trưởng cũng lớn rất mau. Muỗi thì nhiều, sợ nó đốt con heo yêu quý. Ông ba Vinh lấy luôn màn tuyn để mắc trong chuồng cho heo ngủ. Chúng tôi nhìn thấy phát ghét. Lính tráng chẳng có mùng để ngủ, đây heo của thủ trưởng lại có màn tuyn xịn để dùng. Một đêm, trong lũ chúng tôi, có thằng ( bây giờ tôi vẫn không biết là thằng nào? ) bò vào chuồng heo của thủ trưởng Ba Vinh, nổi lửa đốt chiếc màn tuyn vẫn đang mắc cho heo ngủ. Lửa cháy bùng bùng... Thủ trưởng hô tụi lính ra dập lửa. Than ôi, dập xong lửa thì chú heo của thủ trưởng cũng bị bỏng rộp, da cháy loang lổ. Thủ trưởng nhìn thấy chú heo như vậy liền ra sức cứu chữa bằng cách lấy mật ong bôi lên các vết bỏng. Báo hại cho chú heo, thấy mật ngọt, lũ kiến rừng bâu vào đốt cho kêu eng éc suốt đêm. Sang ngày thứ ba, cảm thấy không thể kéo dài được, thủ trưởng nhờ đến bọn tôi cứu chữa chú heo tội nghiệp kia bằng ... dao, bằng thớt. Lâu lắm, chúng tôi mới được bữa thịt lợn tươi ngon đến vậy.
Tháng 6/1980, sư đoàn tổ chức phát thẻ Đảng viên đợt đầu tiên. Trong số được phát thẻ đợt này có chuẩn úy Lập - chúng tôi thường gọi là anh Năm Lập - người Thái Bình - đi lính từ năm 1966/67 nhưng chẳng hiểu sao đến lúc này vẫn mang quân hàm chuẩn úy. Anh Năm Lập ở cùng với hạ sỹ Vi Văn Tởm người dân tộc Thổ - Thanh Hóa. Cả hai người phụ trách trông coi kho lúa chiến lợi phẩm do sư đoàn thu được của địch hồi đánh vào Âm leng. Kho lúa nằm ngay chân núi cạnh phòng Tham mưu sư đoàn.
Ngày 09/06/1980 anh nhận được quyết định phục viên về quê với vợ con. Thôi mừng ơi là mừng. Vốn là một tay thiện xạ nổi tiếng trong khối các cơ quan trong BTL sư đoàn, anh Năm Lập thường hay đi săn đêm. Chúng tôi ở nhà, cứ nghe tiếng súng nổ là chuẩn bị sẵn đòn khênh, dây thừng để đi khiêng thú về. Hầu như ít khi anh phải về tay không. Nhưng anh chưa về với chị được ngay vì phải đến ngày 15/06 thì đảng ủy sư đoàn mới phát thẻ đảng viên. Anh quyết định ở lại chờ nhận thẻ Đảng. Mấy chục năm còn ở đuợc nữa là chỉ còn có vài ngày !!! Vả lại không nhận thẻ Đảng bây giờ, khi trở về địa phương lại lằng nhà lằng nhằng chẳng biết đến bao giờ mới nhận được thẻ Đảng.
Ngày 15/06, sau khi dự lễ nhận thẻ Đảng đợt đầu tiên. Anh mừng vui và tuyên bố sẽ vào rừng kiếm con gì về nhậu một bữa để chia tay với anh em chúng tôi. Tối hôm đó vừa đi một lúc, chúng tôi đã nghe thấy tiếng súng bắn báo hiệu của anh. Chúng tôi đi và khiêng về một con Mễn. Vậy là nhậu tơi bời. Thịt Mễn mềm, ngọt ngon không thể nào tả đuợc. Con Mễn này đang có thai. Anh Năm Lập bèn lấy ngay cả bọc bào thai của nó cho vào nồi cháo đang sôi sùng sục. Nồi cháo hầm xương Mễn nay lại thêm bọc bào thai nên thơm ngon và sánh vô cùng. Ngọt, ngon và bổ hết sảy.
Sau khi nhận thẻ Đảng xong, anh Năm Lập cũng chưa thể về Việt nam ngay được vì chưa có xe về nước. Thời gian này, tình hình xăng dầu gặp nhiều khó khăn. Phòng Hậu cần chúng tôi được lệnh hạn chế cấp lệnh cho các chuyến xe về nước. Ngày trước, khi xăng dầu còn xông xênh chỉ cần sư đoàn có một thi hài liệt sỹ là chúng tôi cũng cấp lệnh một chuyến xe chở liệt sỹ về Việt nam. Nay tình hình có khó khăn, sư đoàn lệnh phải chờ mỗi xe chở đủ 4 liệt sỹ mới được cấp lệnh điều động xe. Mà những ngày này, liệt sỹ chưa... chết đủ nên chưa có xe về nước. ( Xin lỗi, tôi không biết dùng từ gì chính xác hơn từ chờ...chết cho đủ ) .
Ngày 16/06 anh Năm Lập lại đi săn. Lần này anh cũng nhanh chóng hạ được một con heo rừng. Chúng tôi lại nhậu và lần này con heo lại có...bầu. Trong dạ con của con heo là một bọc 5 chiếc bào thai heo bé tí xíu. Bạn đã ăn bào thai heo rán bao giờ chưa? Ngon tuyệt vời, nhất là đối với những con... sâu rượu.
Đến ngày 18/06, chúng tôi được nhận nhu yếu phẩm hàng tháng. Xà bông, đường, thuốc lá, bánh kẹo... Nhân dịp nhận nhu yếu phẩm, anh Năm lại bảo đi kiếm cái gì về nhậu chơi. Nếu săn được sẽ bảo thằng Tởm xuống gọi chúng tôi lên để nhậu. Nhưng hôm đó chúng tôi chẳng thấy ai gọi lên kho lúa để nhậu cả. Chắc hôm nay anh Năm về không rồi.
Chiều hôm sau, 19/06 thằng Tởm hớt hải chạy xuống báo cho chúng tôi biết : Cả đêm qua, anh Năm đi săn không thấy về. Hóa ra đêm qua khi thấy anh Năm không về, thằng Tởm một mình một súng đã vào rừng đi tìm anh Năm. Thỉnh thoảng nó lại bắn mấy viên đạn lửa vạch đường để báo cho anh Năm nhưng chẳng thấy gì. Sáng nay, nó lại một mình vào rừng tìm tiếp cũng chẳng thấy nên bây giờ mới xuống báo cho chúng tôi. Phòng tham Mưu liền điều vệ binh sư đoàn, D27 trinh sát kết hợp cúng chúng tôi vào rừng tìm anh Năm. Đến tận chiều ngày hôm sau 20/06, chúng tôi mới tìm thấy anh Năm Lập nằm vắt người trên con đường mòn dành cho xe bò đi trong rừng cách sư đoàn bộ chừng hơn ba cây số.
Anh Năm đã dính phải lựu đạn gài, người nằm úp sấp. Súng và tư trang cá nhân không còn gì. Mới có hai ngày mà người anh Năm đã trương lên bốc mùi nồng nặc. Anh lại bị Kỳ đà nó gặm nham nhở cả mặt mũi, chân tay trông rất sợ. Tôi, Tởm và Chung " Mập " khiêng anh Năm về mà lòng đau đớn vô cùng. Thật thương cho anh, anh ra đi mà không được hưởng quyền lợi gì cả. Anh đã bị cắt quân số từ ngày mùng 9/06 lại chết trong hoàn cảnh như vậy nên vợ con chẳng được hưởng tiêu chuẩn Liệt sỹ. Tôi là người được cử ra để cùng với tổ khám nghiệm tử thi lập biên bản. Thật kỳ lạ, trong hòm đạn B40 đựng tư trang cá nhân. Chúng tôi thấy anh đang viết dở dang khoảng 10 lá thư. Thư cho vợ, thư cho con gái, con trai, thư cho bố mẹ nuôi, thư cho ban bè.... nhưng tất cả đều viết dở, không có lá nào viết trọn vẹn. Tất cả đều đề ngày 18/06/1980. Anh Năm Lập về nước ngay ngày hôm sau, trên xe đã có đủ 4 thi hài liệt sỹ.
Xe qua một chiếc cầu ngoài thị trấn một đoạn, một anh lính của F15 xin đi nhờ xe. Qua câu chuyện góp vui, chúng tôi được biết anh được đi phép nên đang tìm cách quá giang về Việt nam. Biết chúng tôi chỉ về đến thị xã nhưng anh vẫn xin đi. Được đoạn nào, hay đoạn đó.
Chiếc xe Gát chầm chậm chạy như rùa bò lên chiếc dốc Rừng xanh nằm khoảng giữa hai chiếc cầu từ Phum Tuol Roko đến Phum W. Thnna Keo, mấy thằng ngồi trên xe đang cười ngả cười nghiêng khi nghe tôi kể chuyện tiếu lâm... Vừa lên đỉnh dốc, bỗng toác.. toác... toác tiếng súng AK, AR15 nổ xung quanh như xé vải. Địch phục kích !!! Tôi xoay người lại nép mình vào góc thành xe, giương súng bắn trả. Cậu lính của F15 từ ghế băng cuối xe lao về phía tôi chúi đầu xuống như tránh đạn. Đức “ cối “, Tâm cũng bò ra sàn xe vừa tránh đạn vừa ... bắn lên trời. Anh lái xe tăng tốc miết bàn đạp ga phóng như điên như dại. Bắn hết đạn, tôi quanh sang thằng Đức hét :
- Đưa tao một băng !
- Băng bằng sắt, băng bằng sắt... Thằng Đức vừa trả lời lạc giọng, vừa lấy tay vỗ vỗ vào băng đạn.
Thì ra, tôi hét nó đưa cho tôi băng đạn, trong lúc cuống cuồng nó lại tưởng tôi bảo nó đưa cho tôi cuộn băng cứu thương nên mới có sự nhầm lẫn như vậy. Đến chiếc cầu sắt gần Phum W, Thnna Keo, chiếc xe dừng lại vì có chốt của F15 ở đó. Thôi chết rồi, tôi lại bị thương rồi. Máu phun ra ướt sũng chiếc áo lính tôi đang mặc. Nhưng sao tôi không có cảm giác đau gì nhỉ !!!? Tôi ngoái nhìn lại phía sau. Cậu lính của F15 đi nhờ đã dính một viên xiên qua thái dương, gục đầu lên vai tôi và chết tại chỗ. Thằng Tâm thì dính một viên vào ngực bên phải đang nằm thở khò khè. Tôi nhờ mấy anh em của F15 nhanh chóng băng bó cho Tâm và chúng tôi cho xe chạy nhanh về thẳng D33 nằm ngoài thị xã. Bàn giao thương binh tử sỹ xong, xe chúng tôi chạy về Sân bay. Lúc ấy mới khoảng 5.30 chiều.
Những tháng ngày cuối năm 1979 sang đầu 1980, nhiệm vụ chủ yếu của tụi lính chúng tôi vẫn là đi áp tải đạn, gạo, quân nhu cho các đơn vị ở tuyến trước. Tiện chuyến xe thì lại nhận liệt sỹ chở về. Những tuyến đuờng từ Sân bay đi xuống ga Bamnak ( chỉ huy sở E2 - của Trungsy1 ) hay theo lộ 27 xuống ga Romeas ( chỉ huy sở E1 ) là những tuyến đường " chết chóc ". Thằng nào ở trong danh sách phải đi áp tải là coi như... đi vào cửa tử. Hai bên đường toàn rừng Khộp xen lẫn cỏ tranh. Vắng lặng...vắng ngắt ... cả một đoạn dài mấy chục cây số mà cấm thấy bóng dáng chiếc xe ô tô nào cùng đi cho...đỡ sợ. Bác tài xế thì cắm đầu chạy, không nói không rằng, mặt mũi căng thẳng. Cánh cửa cabin xe bên phía tay lái bao giờ cũng chỉ khép hờ hờ. Cứ nghe Oành... là bác phi cả người ra khỏi xe mà không cần biết tiếng nổ ấy là gì. Lính tráng chốt một chỗ còn yên tâm. Nếu nó đánh vào cũng nổ súng trước, cũng còn chỗ ẩn nấp. Đằng này xe là một mục tiêu rõ ràng và duy nhất. Trên xe chỉ có mỗi khẩu AK hay AR15 đánh đấm cái giề !!!? Nhiều khi thoáng thấy bóng người lại căng thẳng hơn vì không phân biệt nổi đây là dân hay là địch??? Địch hay là " du kích "
Năm 1980, lính tráng bên K bắt đầu rơi vào tình cảnh thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng. Chúng tôi ở Hậu cần sư đoàn mà cũng đã bắt đầu phải ăn độn...đậu xanh. Lúc đầu cũng dễ ăn. Mình cứ nghĩ là giống như ngày tết, Mẹ có nấu đậu xanh để gói bánh chưng, bánh tét mà mình thó được một nắm. Đậm đậm, bùi bùi... ngon đáo để. Nhưng đến khi phải ăn trừ bữa bằng đậu xanh thì ... ớn luôn. Cũng may mà thời gian thiếu thốn ấy kéo dài không lâu.
Để tăng thêm thức ăn cho bộ đội, nhất là các đơn vị đóng gần sư đoàn. Phòng Hậu cần đã hợp tác với dân Khơme sống ven sông Tonlesap tổ chức đánh bắt cá. Dòng sông Tonlesap và Biển hồ quả là một vựa cá khổng lồ. Mùa mưa, Biển hồ dâng nước tràn lên khắp các cánh rừng ven hồ. Lũ cá thi nhau sinh sôi trong các cánh rừng ngập nước đầy ắp thức ăn. Chúng lớn nhanh như thổi. Đến mùa khô, Biển Hồ thu nhỏ lại chỉ còn 1/10 diện tích. Cá từ các cánh rừng đổ về Biển Hồ và các lạch sông. Cá tra, cá lóc trắng, lóc đen, cá hô, cá chẻm, cá chày, cá trôi... trên là trời dưới là cá. Bộ đội lập các chốt đóng ở những vị trí ngã ba các rạch sông bảo vệ địa bàn đánh bắt cá cho dân. Ăn chia theo tỷ lệ 40/60, bộ đội lấy 40 %. Trung bình mỗi tháng, chúng tôi được chia khoảng 250 tấn cá. Cá tươi cấp thẳng cho các đơn vị, cá mang về đổ ra sân bay phơi làm cá khô, làm nước mắm.... Cả đường băng sân bay Congpôngchnang ngập toàn cá lá cá.
Vậy, người dân Khme họ đánh bắt cá như thế nảo? Câu cá, quăng lưới... Không, sai hết. Họ dùng búa gỗ đóng những cây gỗ lớn xuống lòng sông. Cứ cách 5 mét đóng một cọc, đóng ngập xuống đáy lòng sông, phần trên còn nhô lên mặt nước khoảng 4,5 mét. Dùng một loại dây rừng gọi là dây Trại ( càng ngấm nước càng dai ) đan kết hợp với tre tạo thành những tấm phên lớn chặn xuống lòng sông. Cả dòng sông được ngăn lại chỉ hở ra 1, 2 cửa gọi là cửa đáy. Ở đó họ quây lưới và... xúc cá. Cá nhiều đến nỗi cứ một hai tiếng, nếu xúc không kịp thì phải xả đáy lưới ra một lần để xả cá xuống hạ lưu, kẻo cá dồn về làm rách đáy. Xúc đầy những ca nô loại lớn lại chạy vào bờ đổ lên xe của D29 chạy về sân bay. Cả đêm, chúng tôi cứ rầm rập chở cá về lên kế hoạch cung cấp cho các đơn vị, không chia hết thì đổ ra sân bay làm nước mắm và phơi khô. Cá chỉ đổ về nhiều vào các đêm từ mùng 8 âm lịch đến hết ngày 15 âm lịch là bắt đầu ít dần và chỉ đổ về đêm chứ ban ngày thì không có.
Lũ chúng tôi khi đó bữa ăn chỉ toàn cá là cá. Cá nướng, cá kho, nấu canh chua, nấu cháo cá... Thằng nào trực nhật thì quả là khố nạn vì ... cá.
Một hôm, phiên tôi trực nhật. Thằng Đạt " Thái lọ " nó đi áp tải cá mang về bắt tôi phải làm một con cá Hô nặng chừng 30 kg. Vẩy cá Hô to bằng ba ngón tay, cứng như đá. Tay tôi bị thương cầm dao không chắc nên không thể nào mổ được con cá. Cuối cùng, tôi phải bảo thằng Thanh - đồng hương Thanh trì - nó làm giúp, trầy trật mãi hai đứa mới làm được con cá cho anh em ăn. Tôi " căm " thằng Đạt lắm. Tôi chờ đến phiên thằng Đạt trực nhật, tôi và thằng Thanh đi lấy về hai bao tải toàn cá rô đuôi hồng ( một loại cá rất ngon nhưng chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay ) về bắt thằng Đạt làm. Làm suốt từ sáng đến trưa vẫn chưa hết số cá tôi và thằng Thanh mang về. Thằng Đạt ngồi dưới bếp khóc hu hu.... ( Anh em đã ra " sắc lệnh " thằng nào trực nhật phải làm hết những thứ mà anh em đi " cải thiện " được ) vừa khóc vừa chửi là hai thằng chó khố nạn... nó thù tao đây mà......
Cá nhiều quá, chúng tôi liền nghĩ đến việc đào hố, đổ cá xuống để ngâm làm nước tưới rau tăng gia. Rau muống, đậu đũa, bí xanh bí đỏ... cứ tốt ù ù nhờ được tưới thứ nước ngâm cá ấy.
Phòng Hậu cần tổ chức chăn nuôi heo, nuôi vịt. Chúng tôi cũng làm một chiếc chuồng nuôi mấy con heo. Chẳng biết giống má như thế nào mà trông đàn heo như đàn heo rừng. Con nào cũng vằn vện vàng vàng đen đen nhưng lớn nhanh như thổi. Heo ăn cám nấu với cá và rau mà. Thấy chúng tôi nuôi heo mau lớn, đại úy Ba Vinh - phó chủ nhiệm phòng Hậu cần cũng nuôi một chú. Heo của thủ trưởng cũng lớn rất mau. Muỗi thì nhiều, sợ nó đốt con heo yêu quý. Ông ba Vinh lấy luôn màn tuyn để mắc trong chuồng cho heo ngủ. Chúng tôi nhìn thấy phát ghét. Lính tráng chẳng có mùng để ngủ, đây heo của thủ trưởng lại có màn tuyn xịn để dùng. Một đêm, trong lũ chúng tôi, có thằng ( bây giờ tôi vẫn không biết là thằng nào? ) bò vào chuồng heo của thủ trưởng Ba Vinh, nổi lửa đốt chiếc màn tuyn vẫn đang mắc cho heo ngủ. Lửa cháy bùng bùng... Thủ trưởng hô tụi lính ra dập lửa. Than ôi, dập xong lửa thì chú heo của thủ trưởng cũng bị bỏng rộp, da cháy loang lổ. Thủ trưởng nhìn thấy chú heo như vậy liền ra sức cứu chữa bằng cách lấy mật ong bôi lên các vết bỏng. Báo hại cho chú heo, thấy mật ngọt, lũ kiến rừng bâu vào đốt cho kêu eng éc suốt đêm. Sang ngày thứ ba, cảm thấy không thể kéo dài được, thủ trưởng nhờ đến bọn tôi cứu chữa chú heo tội nghiệp kia bằng ... dao, bằng thớt. Lâu lắm, chúng tôi mới được bữa thịt lợn tươi ngon đến vậy.
Tháng 6/1980, sư đoàn tổ chức phát thẻ Đảng viên đợt đầu tiên. Trong số được phát thẻ đợt này có chuẩn úy Lập - chúng tôi thường gọi là anh Năm Lập - người Thái Bình - đi lính từ năm 1966/67 nhưng chẳng hiểu sao đến lúc này vẫn mang quân hàm chuẩn úy. Anh Năm Lập ở cùng với hạ sỹ Vi Văn Tởm người dân tộc Thổ - Thanh Hóa. Cả hai người phụ trách trông coi kho lúa chiến lợi phẩm do sư đoàn thu được của địch hồi đánh vào Âm leng. Kho lúa nằm ngay chân núi cạnh phòng Tham mưu sư đoàn.
Ngày 09/06/1980 anh nhận được quyết định phục viên về quê với vợ con. Thôi mừng ơi là mừng. Vốn là một tay thiện xạ nổi tiếng trong khối các cơ quan trong BTL sư đoàn, anh Năm Lập thường hay đi săn đêm. Chúng tôi ở nhà, cứ nghe tiếng súng nổ là chuẩn bị sẵn đòn khênh, dây thừng để đi khiêng thú về. Hầu như ít khi anh phải về tay không. Nhưng anh chưa về với chị được ngay vì phải đến ngày 15/06 thì đảng ủy sư đoàn mới phát thẻ đảng viên. Anh quyết định ở lại chờ nhận thẻ Đảng. Mấy chục năm còn ở đuợc nữa là chỉ còn có vài ngày !!! Vả lại không nhận thẻ Đảng bây giờ, khi trở về địa phương lại lằng nhà lằng nhằng chẳng biết đến bao giờ mới nhận được thẻ Đảng.
Ngày 15/06, sau khi dự lễ nhận thẻ Đảng đợt đầu tiên. Anh mừng vui và tuyên bố sẽ vào rừng kiếm con gì về nhậu một bữa để chia tay với anh em chúng tôi. Tối hôm đó vừa đi một lúc, chúng tôi đã nghe thấy tiếng súng bắn báo hiệu của anh. Chúng tôi đi và khiêng về một con Mễn. Vậy là nhậu tơi bời. Thịt Mễn mềm, ngọt ngon không thể nào tả đuợc. Con Mễn này đang có thai. Anh Năm Lập bèn lấy ngay cả bọc bào thai của nó cho vào nồi cháo đang sôi sùng sục. Nồi cháo hầm xương Mễn nay lại thêm bọc bào thai nên thơm ngon và sánh vô cùng. Ngọt, ngon và bổ hết sảy.
Sau khi nhận thẻ Đảng xong, anh Năm Lập cũng chưa thể về Việt nam ngay được vì chưa có xe về nước. Thời gian này, tình hình xăng dầu gặp nhiều khó khăn. Phòng Hậu cần chúng tôi được lệnh hạn chế cấp lệnh cho các chuyến xe về nước. Ngày trước, khi xăng dầu còn xông xênh chỉ cần sư đoàn có một thi hài liệt sỹ là chúng tôi cũng cấp lệnh một chuyến xe chở liệt sỹ về Việt nam. Nay tình hình có khó khăn, sư đoàn lệnh phải chờ mỗi xe chở đủ 4 liệt sỹ mới được cấp lệnh điều động xe. Mà những ngày này, liệt sỹ chưa... chết đủ nên chưa có xe về nước. ( Xin lỗi, tôi không biết dùng từ gì chính xác hơn từ chờ...chết cho đủ ) .
Ngày 16/06 anh Năm Lập lại đi săn. Lần này anh cũng nhanh chóng hạ được một con heo rừng. Chúng tôi lại nhậu và lần này con heo lại có...bầu. Trong dạ con của con heo là một bọc 5 chiếc bào thai heo bé tí xíu. Bạn đã ăn bào thai heo rán bao giờ chưa? Ngon tuyệt vời, nhất là đối với những con... sâu rượu.
Đến ngày 18/06, chúng tôi được nhận nhu yếu phẩm hàng tháng. Xà bông, đường, thuốc lá, bánh kẹo... Nhân dịp nhận nhu yếu phẩm, anh Năm lại bảo đi kiếm cái gì về nhậu chơi. Nếu săn được sẽ bảo thằng Tởm xuống gọi chúng tôi lên để nhậu. Nhưng hôm đó chúng tôi chẳng thấy ai gọi lên kho lúa để nhậu cả. Chắc hôm nay anh Năm về không rồi.
Chiều hôm sau, 19/06 thằng Tởm hớt hải chạy xuống báo cho chúng tôi biết : Cả đêm qua, anh Năm đi săn không thấy về. Hóa ra đêm qua khi thấy anh Năm không về, thằng Tởm một mình một súng đã vào rừng đi tìm anh Năm. Thỉnh thoảng nó lại bắn mấy viên đạn lửa vạch đường để báo cho anh Năm nhưng chẳng thấy gì. Sáng nay, nó lại một mình vào rừng tìm tiếp cũng chẳng thấy nên bây giờ mới xuống báo cho chúng tôi. Phòng tham Mưu liền điều vệ binh sư đoàn, D27 trinh sát kết hợp cúng chúng tôi vào rừng tìm anh Năm. Đến tận chiều ngày hôm sau 20/06, chúng tôi mới tìm thấy anh Năm Lập nằm vắt người trên con đường mòn dành cho xe bò đi trong rừng cách sư đoàn bộ chừng hơn ba cây số.
Anh Năm đã dính phải lựu đạn gài, người nằm úp sấp. Súng và tư trang cá nhân không còn gì. Mới có hai ngày mà người anh Năm đã trương lên bốc mùi nồng nặc. Anh lại bị Kỳ đà nó gặm nham nhở cả mặt mũi, chân tay trông rất sợ. Tôi, Tởm và Chung " Mập " khiêng anh Năm về mà lòng đau đớn vô cùng. Thật thương cho anh, anh ra đi mà không được hưởng quyền lợi gì cả. Anh đã bị cắt quân số từ ngày mùng 9/06 lại chết trong hoàn cảnh như vậy nên vợ con chẳng được hưởng tiêu chuẩn Liệt sỹ. Tôi là người được cử ra để cùng với tổ khám nghiệm tử thi lập biên bản. Thật kỳ lạ, trong hòm đạn B40 đựng tư trang cá nhân. Chúng tôi thấy anh đang viết dở dang khoảng 10 lá thư. Thư cho vợ, thư cho con gái, con trai, thư cho bố mẹ nuôi, thư cho ban bè.... nhưng tất cả đều viết dở, không có lá nào viết trọn vẹn. Tất cả đều đề ngày 18/06/1980. Anh Năm Lập về nước ngay ngày hôm sau, trên xe đã có đủ 4 thi hài liệt sỹ.
Tổ tam tam - Lê Thái Thọ (P12)
Công việc của thằng lính nhân viên thống kê, kế hoạch cũng giúp cho tôi hay được " bát ngát " đi đây đi đó. Khi thì Phú giáo ( Bình dương ), khi thì Sóng thần ( QĐ4 ). Sư đoàn có một nông trường ở tại Phú giáo. Tôi thỉnh thoảng đi xuống lấy số liệu vớ vẩn về tăng gia sản xuất, nhận các yêu cầu về cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu... Một lần tôi đi xuống bằng xe Reo, gần đến nông trường thì xe bị mất phanh ( mất thắng ). Chú Bảy lái xe ( lái xe của QLVNCH cũ ) liền bảo tôi đi mua cho chú xị rượu. Chết mẹ ! Ông này không sửa nổi xe nên bảo tôi mua rượu về nhậu suông đây. Tôi vừa đi mua, vừa lầm bầm. Tôi mua rượu về, chú Bảy liền đổ xị rượu vào thay cho dầu phanh. Xe tiếp tục lên đường. Hoá ra, khi " bí " rượu có thể thay cho dầu phanh được.
Một lần, cả lũ nhân viên của phòng hậu cần chúng tôi được cử đi nhận dầu Diesel tại căn cứ Sóng thần. D29 có nhiều xe bồn loại 4000 lít, 6000 lít nhưng chỉ có 1 chiếc 11.000 lít là chiếc xe cũ của Mỹ. Chúng tôi lên từ chiều hôm trước. Sáng hôm sau làm thủ tục nhận 11.000 lít dầu. Máy bơm không có, mấy thằng thay nhau bơm tay từ sáng đến quá trưa mới đủ số lượng. Cánh tay thằng nào, thằng ấy mỏi rã rời. Khoảng 3,4 chiều xe mới ra đến xa lộ Đại hàn. Anh lái xe gạ :
- Làm trận " cầy tơ bảy món " chứ chúng mày?
Đang đói và mệt, nghe đến nhậu mắt thằng nào thằng ấy rạng rỡ như " những ánh sao đêm ". Nhưng tiền thì tất cả đều " trên răng dưới... cát tút " lấy đâu ra tiền mà nhậu với chả nhẹt. Anh lái xe vừa nói vừa cười :
- Mấy thằng ngố, cứ nhậu thả dàn đi. Tao đảm bảo ngày mai sẽ giao đủ, thậm chí còn giao dư 11000 lít dầu.
Nói thực hiện ngay đi đôi với làm. Anh gọi chủ quán xách " can " tháo luôn 5,6 can đầy. Cả lũ nhậu nhẹt mệt nghỉ. Sau khi ăn uống đã đời. Anh cho xe chạy một đoạn chừng vài chục cây số. Đến khu rừng cao su ven đường thì dừng xe.
- Thôi, đêm nay chúng ta nghỉ tại đây.
Chúng tôi nằm ngủ ngổn ngang ngay trên đường quốc lộ. Nằm cạnh anh lái xe, anh giải thích để tôi yên tâm:
- Cả ngày phơi nắng, xe dầu này nó nở ra cả trăm lít. Mình có bán tí chút cũng chẳng " nhằm nhò " gì. Bây giờ đừng về sư đoàn vội. Về sớm, sáng mai giao hàng dầu nó hao. Ngày mai mình chạy về đến nhà vào tầm quá trưa, dầu nó lại nở ra. Giao có dư luôn.
Bài học đầu tiên của ngành " hậu cần " với tôi là như vậy. Quả nhiên, chiều hôm sau chúng tôi giao hàng đầy đủ. Dầu không thiếu một giọt. Tóm lại khi nhận xăng dầu thì phải nhận hàng từ sáng sớm, giao hàng thì phải giao buổi chiều.
Rồi thì những tháng ngày vô vị nằm tại cứ Trảng lớn cũng đã trôi qua.
Ngày Chủ nhật 17.06.1979 tôi được lệnh đi tiền phương. Lâu lắm rồi bây giờ mới lại được cầm khẩu súng trên tay, dù chỉ là khẩu AK nhỏ bé. Một chút bồi hồi, một chút lạ lẫm. Xe D29 đón chúng tôi, trên xe toàn là cán bộ chiến sỹ của các phòng ban và lính D29 lên tiền phương. Các anh chắc đi đi về về nhiều lần nên không thấy lạ chứ còn tôi thì có đôi chút hồi hộp. Hôm qua tôi đã đi mua sắm cho mình đầy đủ mọi thứ cần thiết, tất cả cho hết vào chiếc thùng gỗ đựng đạn B40. Đúng là lính sư đoàn đi chiến trường cũng khác với lính trận. Lính trận càng gọn nhẹ bao nhiêu thì lính " kiểng " càng kềnh càng bấy nhiêu. Thử xem trong thùng gỗ B40 mang theo những gì?
- Quần áo dài, quần áo lót : 2, 3 bộ ( lính chốt chỉ có nhất bộ ).
- Xà bông thơm, xà bông giặt ( quá xa xỉ với lính chốt )
- Giấy viết vài tập, bút bi vài chiếc..
- Nilon, tăng võng...đầy đủ.
và nhiều thứ khác.
Trên xe các anh cũng toàn mang thùng gỗ, thùng tôn chứ rất ít người mang ba lô. Xe chạy qua nhưng địa danh mang bao kỷ niệm đối với tôi. Mộc bài, ba vét... kia rồi ngã tư Rừng Sở, Chi Phu, cầu Tà Yên những địa danh thấm máu biết bao đồng đội. Nhìn hai chiếc T54 bị bắn cháy, màu đỏ gạch cua nằm gục nòng bên cạnh cầu Prasaut tôi chợt nhớ đến câu chuyện " đổi hai xe lấy một mã " vang khắp sư đoàn của Trung đoàn trưởng trung đoàn tôi vài tháng trước. Đường xóc kinh khủng mãi đến tối mịt, chúng tôi mới đến PhnomPenh. Xe nghỉ lại tại một căn nhà nhỏ hai tầng rất đẹp cạnh cầu " Sập ". PhnomPenh đã hồi sinh, điện nước đầy đủ. Ban đêm, thành phố hoàn toàn yên tĩnh. Tôi mắc mùng trên ban công lầu hai để ngủ. Đêm an toàn nhưng phải cái rất nhiều muỗi.
Xe chạy theo lộ 5 hướng thị xã Congpongchnang thẳng tiến. Dọc đường, thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp những chiếc xe quân sự cháy đen nằm chỏng chơ ven đường. Đoạn dốc gần ngã tư rừng dừa, có tới 5, 6 chiếc T54, T59 của ta cháy đen thui. Đến ngã tư rừng dừa, chúng tôi tạm dừng chân nghỉ uống nước. Đây là hậu cứ cũ của D29. Trong căn nhà ven đường, loáng thoáng vài ba anh bộ đội ngồi đung đưa trên cánh võng. Một anh dáng người đậm chắc đang nằm ngủ trên chiếc võng màu xanh " sĩ lâm " lạ mắt. Một anh cán bộ trong đoàn chúng tôi đến bên cạnh đập đập vào thành võng. Người đang nằm trên võng vung tay nhảy bật dậy đứng thế thủ. Nhận rõ anh cán bộ vừa đánh thức mình, người kia cười ha hả và nói một tràng tiếng Miên. Lúc ấy, qua giới thiệu, tôi mới được biết đó là thằng cha tiểu đoàn trưởng D10 Quân đội CM CPC - Khi đó, các sư đoàn của ta đều phải có nghĩa vụ xây dựng 01 tiểu đoàn cho bạn gọi là " tiểu đoàn dân vận ". Thằng cha này rất giỏi võ nghệ. Trông mặt thấy ghét. Mặt vuông, góc cạnh, tóc xoăn...phải nói là đàn ông Campuchia nhiều cha rất đẹp trai, công bằng mà nói là ăn đứt anh em mình chỉ tội da đen và tóc xoăn tít thôi. Gặp thằng cha này ở ngoài mặt trận, chắc nó lãnh đủ ...cả băng.
Xe chạy đến thị xã vào lúc quá trưa. Một thị xã nhỏ đẹp nằm nép mình ven bờ tonlesap.
Chạy miết luôn qua thị xã không dừng lại. Đi khoảng vài cây số, chiếc xe rẽ vào con đường lát bê tông chạy êm ru. Bộ tư lệnh tiền phương của sư đoàn nằm xung quanh khu vực sân bay Kampongchhnang.
Đây là một sân bay quân sự lớn do Trung quốc giúp PônPốt xây dựng đang trong thời kỳ hoàn thiện. Đường băng chạy dọc theo hướng bắc - nam. Toàn bộ khu vực phía nam của sân bay tựa vào dãy núi cao chừng 200 mét. Phía đông là khu vực trú quân của 3 phòng ( Tham mưu - Chính trị - Hậu cần ). Phòng tham mưu ăn ở khang trang nhất nằm ngay ngoài cùng ( chắc khu này là dành cho phi công và chỉ huy sân bay ), kế đến là phòng hậu cần, gần cạnh đường băng là phòng chính trị. D29 ở ngay đầu đường băng. Lính có câu : " Ăn hậu cần, nằm tham mưu, lên sao chính trị " chẳng sai tẹo nào. Phía tây đường băng là các đơn vị trực thuộc lần lượt D10 ( dân vận - sau một thời gian thì giải tán), D26 ( thông tin ), D27 ( trinh sát ). Sát đường băng phía đông cạnh đài chỉ huy là trại tù binh.
Tôi về phòng hậu cần, do thiếu tá ( sau đó lên trung tá ) Nguyễn Do ( Mười Do ) làm trưởng phòng.
Công việc ở tại tiền phương này chẳng có gì cố định. Khi thì xuống các trung đoàn lấy số liệu tiện xe chở luôn mấy tử sĩ về sư, khi thì đi chốt của phòng ở các điểm chốt như ngoài thị xã, trên thị trấn Pôlây, Cô cháp, Tà lia, chùa Lông chó.... ( mà tôi cũng chẳng biết tại sao chúng tôi đặt tên là chùa Lông chó nữa ). Nhiệm vụ quan trọng nữa là tổ chức, kết hợp cùng với dân đánh cá trên sông Tônlêsap và biển hồ để cung cấp thực phẩm cho bộ đội. Do có những chốt như vậy, việc chúng tôi chạm và đấu súng với Pốt là chuyện đương nhiên. Hóa ra làm lính " kiểng " trên sư cũng chẳng an toàn lắm.
Sau khi nghỉ ngơi mấy ngày, tôi được lệnh cùng với một xe của D29 chở đạn và gạo lên tiếp tế cho chốt Pôlây. Cùng đi với tôi có Đức ( tức Đức cối ), Tâm cả hai đều là dân Thanh Hoá. Chúng tôi chuẩn bị súng ống, đạn dược đầy đủ. Con đường lộ 5 từ sân bay lên Pô lây thật vắng vẻ, ít xe cộ qua lại. Tất cả cầu cống trên đường đều có chốt của F15. Xe chạy không nhanh lắm vì đường rất xấu. Anh lái xe bảo chúng tôi phải giao hàng nhanh để còn về sớm, cứ quá 2 giờ chiều vẫn còn lang thang trên đường dễ bị “ phục “ lắm. Chúng tôi lên tới thị trấn, xe rẽ phải vào một con đường nhỏ hướng ra phía Biển Hồ. Đường hẹp và khó đi, xe len lỏi luồn lách qua những rặng cây loà xoà. Một ngôi chùa nhỏ nằm ngay ven đường, đứng trên thùng xe, tôi nhìn thấy trong gian chính ngôi chùa chứa đầy ắp sọ người. Tôi thoáng nghĩ đây chỉ mới là một thị trấn nhỏ mà số người chết dưới chế độ Pôn Pốt còn nhiều như thế này, nếu cả đất nước CPC thì số lượng người chết còn khủng khiếp tới đâu !!!? Xe đi tới khu vực Biển hồ, chốt của đơn vị tôi nằm ngay trên sông. Tôi giương AK bắn ba phát súng báo hiệu là xe chúng tôi đã tới. Một lát sau, một chiếc xuồng ra đón chúng tôi. Anh em trong chốt đã cho cả người ra canh giữ xe ô tô cẩn thận. Chúng tôi chuyển súng đạn, gạo, nhu yếu phẩm xuống xuồng và cùng đi ra chốt.
Chốt trên sông - một trận địa chốt hoàn toàn mới và lạ đối với tôi. Đó là hai, ba chiếc nhà bè được ghép lại. Nhà làm bằng gỗ, mái lợp tôn. Nhà tương đối rộng rãi, thoáng mát. Cả chốt ước chừng một trung đội “ cứng “. Ở đây, hoàn toàn bất ngờ tôi gặp lại Lợi “ Bọ “ người cùng huấn luyện ở ngoài 308 với tôi, hiện nay phụ trách tại đây. Chốt trang bị hoả lực mạnh : một 12.8 ly, một cối 60, một RPD, một B40 và còn lại là AK, AR15... anh em toàn bộ là thương binh nhưng chưa được xếp hạng thương tật hoặc xếp hạng rồi nhưng chưa đủ điều kiện ra Bắc. Lợi, Vân, Sơn, Mạnh Đạt.... toàn những lính đã từng chinh chiến cả. Sau bữa cơm trưa rất thịnh soạn gồm các món toàn làm từ cá tươi ( bọn ở chốt này không bao giờ phải lo đến thực phẩm ), Mạnh Đạt ( Thái lọ ) nguyên lính thông tin hữu tuyến của E2 vui vẻ giới thiệu với tôi về chốt của chúng nó qua mấy câu thơ tự viết :
Chẳng là chốt cách thị trấn Pô lây rất xa, nếu mùa nước nổi thì còn có xuồng đưa đến sát thị trấn. Mùa khô, nước rút ra xa, muốn đi chơi Pôlây phải “ cuốc bộ “ xái cẳng.
Một lần, cả lũ nhân viên của phòng hậu cần chúng tôi được cử đi nhận dầu Diesel tại căn cứ Sóng thần. D29 có nhiều xe bồn loại 4000 lít, 6000 lít nhưng chỉ có 1 chiếc 11.000 lít là chiếc xe cũ của Mỹ. Chúng tôi lên từ chiều hôm trước. Sáng hôm sau làm thủ tục nhận 11.000 lít dầu. Máy bơm không có, mấy thằng thay nhau bơm tay từ sáng đến quá trưa mới đủ số lượng. Cánh tay thằng nào, thằng ấy mỏi rã rời. Khoảng 3,4 chiều xe mới ra đến xa lộ Đại hàn. Anh lái xe gạ :
- Làm trận " cầy tơ bảy món " chứ chúng mày?
Đang đói và mệt, nghe đến nhậu mắt thằng nào thằng ấy rạng rỡ như " những ánh sao đêm ". Nhưng tiền thì tất cả đều " trên răng dưới... cát tút " lấy đâu ra tiền mà nhậu với chả nhẹt. Anh lái xe vừa nói vừa cười :
- Mấy thằng ngố, cứ nhậu thả dàn đi. Tao đảm bảo ngày mai sẽ giao đủ, thậm chí còn giao dư 11000 lít dầu.
Nói thực hiện ngay đi đôi với làm. Anh gọi chủ quán xách " can " tháo luôn 5,6 can đầy. Cả lũ nhậu nhẹt mệt nghỉ. Sau khi ăn uống đã đời. Anh cho xe chạy một đoạn chừng vài chục cây số. Đến khu rừng cao su ven đường thì dừng xe.
- Thôi, đêm nay chúng ta nghỉ tại đây.
Chúng tôi nằm ngủ ngổn ngang ngay trên đường quốc lộ. Nằm cạnh anh lái xe, anh giải thích để tôi yên tâm:
- Cả ngày phơi nắng, xe dầu này nó nở ra cả trăm lít. Mình có bán tí chút cũng chẳng " nhằm nhò " gì. Bây giờ đừng về sư đoàn vội. Về sớm, sáng mai giao hàng dầu nó hao. Ngày mai mình chạy về đến nhà vào tầm quá trưa, dầu nó lại nở ra. Giao có dư luôn.
Bài học đầu tiên của ngành " hậu cần " với tôi là như vậy. Quả nhiên, chiều hôm sau chúng tôi giao hàng đầy đủ. Dầu không thiếu một giọt. Tóm lại khi nhận xăng dầu thì phải nhận hàng từ sáng sớm, giao hàng thì phải giao buổi chiều.
Rồi thì những tháng ngày vô vị nằm tại cứ Trảng lớn cũng đã trôi qua.
Ngày Chủ nhật 17.06.1979 tôi được lệnh đi tiền phương. Lâu lắm rồi bây giờ mới lại được cầm khẩu súng trên tay, dù chỉ là khẩu AK nhỏ bé. Một chút bồi hồi, một chút lạ lẫm. Xe D29 đón chúng tôi, trên xe toàn là cán bộ chiến sỹ của các phòng ban và lính D29 lên tiền phương. Các anh chắc đi đi về về nhiều lần nên không thấy lạ chứ còn tôi thì có đôi chút hồi hộp. Hôm qua tôi đã đi mua sắm cho mình đầy đủ mọi thứ cần thiết, tất cả cho hết vào chiếc thùng gỗ đựng đạn B40. Đúng là lính sư đoàn đi chiến trường cũng khác với lính trận. Lính trận càng gọn nhẹ bao nhiêu thì lính " kiểng " càng kềnh càng bấy nhiêu. Thử xem trong thùng gỗ B40 mang theo những gì?
- Quần áo dài, quần áo lót : 2, 3 bộ ( lính chốt chỉ có nhất bộ ).
- Xà bông thơm, xà bông giặt ( quá xa xỉ với lính chốt )
- Giấy viết vài tập, bút bi vài chiếc..
- Nilon, tăng võng...đầy đủ.
và nhiều thứ khác.
Trên xe các anh cũng toàn mang thùng gỗ, thùng tôn chứ rất ít người mang ba lô. Xe chạy qua nhưng địa danh mang bao kỷ niệm đối với tôi. Mộc bài, ba vét... kia rồi ngã tư Rừng Sở, Chi Phu, cầu Tà Yên những địa danh thấm máu biết bao đồng đội. Nhìn hai chiếc T54 bị bắn cháy, màu đỏ gạch cua nằm gục nòng bên cạnh cầu Prasaut tôi chợt nhớ đến câu chuyện " đổi hai xe lấy một mã " vang khắp sư đoàn của Trung đoàn trưởng trung đoàn tôi vài tháng trước. Đường xóc kinh khủng mãi đến tối mịt, chúng tôi mới đến PhnomPenh. Xe nghỉ lại tại một căn nhà nhỏ hai tầng rất đẹp cạnh cầu " Sập ". PhnomPenh đã hồi sinh, điện nước đầy đủ. Ban đêm, thành phố hoàn toàn yên tĩnh. Tôi mắc mùng trên ban công lầu hai để ngủ. Đêm an toàn nhưng phải cái rất nhiều muỗi.
Xe chạy theo lộ 5 hướng thị xã Congpongchnang thẳng tiến. Dọc đường, thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp những chiếc xe quân sự cháy đen nằm chỏng chơ ven đường. Đoạn dốc gần ngã tư rừng dừa, có tới 5, 6 chiếc T54, T59 của ta cháy đen thui. Đến ngã tư rừng dừa, chúng tôi tạm dừng chân nghỉ uống nước. Đây là hậu cứ cũ của D29. Trong căn nhà ven đường, loáng thoáng vài ba anh bộ đội ngồi đung đưa trên cánh võng. Một anh dáng người đậm chắc đang nằm ngủ trên chiếc võng màu xanh " sĩ lâm " lạ mắt. Một anh cán bộ trong đoàn chúng tôi đến bên cạnh đập đập vào thành võng. Người đang nằm trên võng vung tay nhảy bật dậy đứng thế thủ. Nhận rõ anh cán bộ vừa đánh thức mình, người kia cười ha hả và nói một tràng tiếng Miên. Lúc ấy, qua giới thiệu, tôi mới được biết đó là thằng cha tiểu đoàn trưởng D10 Quân đội CM CPC - Khi đó, các sư đoàn của ta đều phải có nghĩa vụ xây dựng 01 tiểu đoàn cho bạn gọi là " tiểu đoàn dân vận ". Thằng cha này rất giỏi võ nghệ. Trông mặt thấy ghét. Mặt vuông, góc cạnh, tóc xoăn...phải nói là đàn ông Campuchia nhiều cha rất đẹp trai, công bằng mà nói là ăn đứt anh em mình chỉ tội da đen và tóc xoăn tít thôi. Gặp thằng cha này ở ngoài mặt trận, chắc nó lãnh đủ ...cả băng.
Xe chạy đến thị xã vào lúc quá trưa. Một thị xã nhỏ đẹp nằm nép mình ven bờ tonlesap.
Chạy miết luôn qua thị xã không dừng lại. Đi khoảng vài cây số, chiếc xe rẽ vào con đường lát bê tông chạy êm ru. Bộ tư lệnh tiền phương của sư đoàn nằm xung quanh khu vực sân bay Kampongchhnang.
Đây là một sân bay quân sự lớn do Trung quốc giúp PônPốt xây dựng đang trong thời kỳ hoàn thiện. Đường băng chạy dọc theo hướng bắc - nam. Toàn bộ khu vực phía nam của sân bay tựa vào dãy núi cao chừng 200 mét. Phía đông là khu vực trú quân của 3 phòng ( Tham mưu - Chính trị - Hậu cần ). Phòng tham mưu ăn ở khang trang nhất nằm ngay ngoài cùng ( chắc khu này là dành cho phi công và chỉ huy sân bay ), kế đến là phòng hậu cần, gần cạnh đường băng là phòng chính trị. D29 ở ngay đầu đường băng. Lính có câu : " Ăn hậu cần, nằm tham mưu, lên sao chính trị " chẳng sai tẹo nào. Phía tây đường băng là các đơn vị trực thuộc lần lượt D10 ( dân vận - sau một thời gian thì giải tán), D26 ( thông tin ), D27 ( trinh sát ). Sát đường băng phía đông cạnh đài chỉ huy là trại tù binh.
Tôi về phòng hậu cần, do thiếu tá ( sau đó lên trung tá ) Nguyễn Do ( Mười Do ) làm trưởng phòng.
Công việc ở tại tiền phương này chẳng có gì cố định. Khi thì xuống các trung đoàn lấy số liệu tiện xe chở luôn mấy tử sĩ về sư, khi thì đi chốt của phòng ở các điểm chốt như ngoài thị xã, trên thị trấn Pôlây, Cô cháp, Tà lia, chùa Lông chó.... ( mà tôi cũng chẳng biết tại sao chúng tôi đặt tên là chùa Lông chó nữa ). Nhiệm vụ quan trọng nữa là tổ chức, kết hợp cùng với dân đánh cá trên sông Tônlêsap và biển hồ để cung cấp thực phẩm cho bộ đội. Do có những chốt như vậy, việc chúng tôi chạm và đấu súng với Pốt là chuyện đương nhiên. Hóa ra làm lính " kiểng " trên sư cũng chẳng an toàn lắm.
Sau khi nghỉ ngơi mấy ngày, tôi được lệnh cùng với một xe của D29 chở đạn và gạo lên tiếp tế cho chốt Pôlây. Cùng đi với tôi có Đức ( tức Đức cối ), Tâm cả hai đều là dân Thanh Hoá. Chúng tôi chuẩn bị súng ống, đạn dược đầy đủ. Con đường lộ 5 từ sân bay lên Pô lây thật vắng vẻ, ít xe cộ qua lại. Tất cả cầu cống trên đường đều có chốt của F15. Xe chạy không nhanh lắm vì đường rất xấu. Anh lái xe bảo chúng tôi phải giao hàng nhanh để còn về sớm, cứ quá 2 giờ chiều vẫn còn lang thang trên đường dễ bị “ phục “ lắm. Chúng tôi lên tới thị trấn, xe rẽ phải vào một con đường nhỏ hướng ra phía Biển Hồ. Đường hẹp và khó đi, xe len lỏi luồn lách qua những rặng cây loà xoà. Một ngôi chùa nhỏ nằm ngay ven đường, đứng trên thùng xe, tôi nhìn thấy trong gian chính ngôi chùa chứa đầy ắp sọ người. Tôi thoáng nghĩ đây chỉ mới là một thị trấn nhỏ mà số người chết dưới chế độ Pôn Pốt còn nhiều như thế này, nếu cả đất nước CPC thì số lượng người chết còn khủng khiếp tới đâu !!!? Xe đi tới khu vực Biển hồ, chốt của đơn vị tôi nằm ngay trên sông. Tôi giương AK bắn ba phát súng báo hiệu là xe chúng tôi đã tới. Một lát sau, một chiếc xuồng ra đón chúng tôi. Anh em trong chốt đã cho cả người ra canh giữ xe ô tô cẩn thận. Chúng tôi chuyển súng đạn, gạo, nhu yếu phẩm xuống xuồng và cùng đi ra chốt.
Chốt trên sông - một trận địa chốt hoàn toàn mới và lạ đối với tôi. Đó là hai, ba chiếc nhà bè được ghép lại. Nhà làm bằng gỗ, mái lợp tôn. Nhà tương đối rộng rãi, thoáng mát. Cả chốt ước chừng một trung đội “ cứng “. Ở đây, hoàn toàn bất ngờ tôi gặp lại Lợi “ Bọ “ người cùng huấn luyện ở ngoài 308 với tôi, hiện nay phụ trách tại đây. Chốt trang bị hoả lực mạnh : một 12.8 ly, một cối 60, một RPD, một B40 và còn lại là AK, AR15... anh em toàn bộ là thương binh nhưng chưa được xếp hạng thương tật hoặc xếp hạng rồi nhưng chưa đủ điều kiện ra Bắc. Lợi, Vân, Sơn, Mạnh Đạt.... toàn những lính đã từng chinh chiến cả. Sau bữa cơm trưa rất thịnh soạn gồm các món toàn làm từ cá tươi ( bọn ở chốt này không bao giờ phải lo đến thực phẩm ), Mạnh Đạt ( Thái lọ ) nguyên lính thông tin hữu tuyến của E2 vui vẻ giới thiệu với tôi về chốt của chúng nó qua mấy câu thơ tự viết :
“ Chúng tôi ở trên sông
Nơi có những cánh rừng ngập trong lòng nước
Con chim có nhiều nhưng không làm tổ được
Lũ giặc rình mò, cái chết ở bên trong
Chúng tôi ở trên sông
Nơi có những chiều thuyền về đầy cá
Cô gái Khơ me ửng hồng đôi má
Gọi tên chúng tôi, anh Coong tóp Việt nam
Khi mây lặng trời êm
Chiếc Ca nô nhẹ lướt
Có những lúc sông giận mình mấy lượt
Là khi mây đen giăng đầy trời
.....
Toàn con trai nhưng rất yêu nhau
Đứa nào cũng đòi lên cạn
Nhưng chẳng bù cho mùa hạn
Đi mấy lần đã ngại đau chân.......... “
Nơi có những cánh rừng ngập trong lòng nước
Con chim có nhiều nhưng không làm tổ được
Lũ giặc rình mò, cái chết ở bên trong
Chúng tôi ở trên sông
Nơi có những chiều thuyền về đầy cá
Cô gái Khơ me ửng hồng đôi má
Gọi tên chúng tôi, anh Coong tóp Việt nam
Khi mây lặng trời êm
Chiếc Ca nô nhẹ lướt
Có những lúc sông giận mình mấy lượt
Là khi mây đen giăng đầy trời
.....
Toàn con trai nhưng rất yêu nhau
Đứa nào cũng đòi lên cạn
Nhưng chẳng bù cho mùa hạn
Đi mấy lần đã ngại đau chân.......... “
Chẳng là chốt cách thị trấn Pô lây rất xa, nếu mùa nước nổi thì còn có xuồng đưa đến sát thị trấn. Mùa khô, nước rút ra xa, muốn đi chơi Pôlây phải “ cuốc bộ “ xái cẳng.
Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010
Tổ tam tam - Lê Thái Thọ (P11)
Ngày 15.08.1978, đang chuẩn bị ăn cơm chiều. Tôi có khách. Thằng Thọ, cũng tên là Thọ - Thọ “ con “ người Hà tĩnh, lính mới của C11 cùng B với tôi và Minh đến gặp tôi :
- Anh Minh hy sinh rồi anh Thọ ạ. Ngay câu đầu tiên, Thọ “ con “ thông báo.
Tôi bàng hoàng cả người. Minh ơi, lẽ nào mày cũng đã ra đi. Tôi không thể cầm nổi nước mắt. Cái thằng Minh, thằng bạn thân nhất của tôi lẽ nào nó đã hy sinh. Lẽ nào cái Tổ Tam Tam thân yêu của chúng tôi chỉ còn lại bơ vơ một mình tôi sao? Tôi lặng người ngồi nghe Thọ “ con “ thuật lại diễn biến cuộc chiến đấu cuối cùng của Minh.
Ngày 11.08.1978, vừa sáng ra bọn địch đã tổ chức tấn công vào chốt của tiểu đoàn 3. Có sự yểm trợ của M113, bọn địch hung hãn lao vào tấn công các chốt của đại đội. Thằng Minh dũng cảm cùng với anh em đẩy lùi được nhiều đợt tấn công của địch. Khoảng 11 giờ trưa, chúng tổ chức tấn công lần nữa. Tiếng súng địch nổ toang toác khắp nơi. DK 82, DK 75 của chúng bắn như vãi đạn. Thằng Minh thấy xe M113 nó vượt qua cánh đồng trống trước mặt lao vào, nó vọt ra khỏi hầm vác B41 nện liên tiếp mấy trái. Khói súng toả ra mù mịt. Một sơ xuất chết người đã xảy ra. Sau khi bắn xong mấy trái B41, thằng Minh đã không di chuyển ngang. Chỗ đứng bắn bị lộ, bọn địch tập trung DK quất tới tấp vào chỗ Minh đang đứng. Một mảnh đạn cắm thẳng vào trán nó. Minh gục xuống. Anh em trong B lao ra kéo nó vào hầm. Một lúc sau, Minh tỉnh lại, mở mắt và bảo :
- Em lấy giúp anh cái ví.
Trong lúc nhào ra khỏi hầm để bắn, nó đánh rơi mất chiếc ví ở cạnh hầm. Thằng Thọ “ con “ nhặt chiếc ví đưa lại cho Minh. Nó từ từ mở ví ra. Đây ảnh gia đình nó lúc còn đông đủ, đây là ảnh Minh Nguyệt – Trăng sáng thân yêu của nó, đây những lá thư của Minh Nguyệt mà nó vừa nhận được. Minh từ từ xem lại tất cả rồi cất vào ví. Nó khó nhọc nói :
- Em cầm lấy chiếc ví này rồi đưa về cho anh Thọ.
Minh nói xong, nó nôn ra vài lần rồi nhắm mắt.
Cuộc chiến đấu càng về trưa càng trở lên khốc liệt. Các đại đội 13, 12 rồi đến đại đội 11 của tiểu đoàn 3 lần lượt bị đánh bật khỏi chốt. Do áp lực rất mạnh của địch. Thi hài của Minh cùng với ba chiến sỹ nữa của C11 vẫn nằm lại trên trận địa.
Minh ơi, thế là cái “ linh cảm “ khủng khiếp của mày đã trở thành sự thật. Thế là không bao giờ tao còn được nhìn thấy mày nữa.
Minh, Long hai thành viên của cái Tổ Tam Tam thân thuộc đã vĩnh viễn nằm xuống. Chúng mày đã chiến đấu một cách anh dũng. Chúng mày đã nằm xuống đầy vinh quang. Chúng mày không hổ danh là những chàng trai Hà thành sống, chết đầy kiêu hãnh. Minh ơi, Long ơi hãy yên nghỉ nhé. Vĩnh biệt chúng mày, hai người bạn thân yêu.
Tôi nằm mấy tháng an dưỡng tại đại đội an dưỡng của Trung đoàn tại Bến Cầu, Tây Ninh. Thực tế chỉ có an mà không có dưỡng. Tức là chỉ có nghỉ ngơi còn ăn uống thì cực vô cùng ( kém xa hồi còn đang tác chiến ). Thương binh lúc nào cũng đói, đói đến quằn ruột. B tôi ( cũng chia thành các B như bình thường ) nằm tại một túp lều ( nó chỉ là nơi nhốt cặp bò của chủ nhà đã đi sơ tán ) của chú Tư cạnh rìa làng. Cách nhà đại đội chừng 200m. Ăn uống chỉ có 2 bữa ăn chính là trưa và tối. Hàng ngày thương binh chia nhau đi cắm câu, tát cá để cải thiện. Tối tối lại thêm nghề đi soi ếch. Nhưng mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng đói vẫn hoàn toàn đói. Một đêm mưa to gió lớn ( mà sao kỳ vậy, các bài viết của tôi hay rơi vào những đoạn có thời tiết xấu tệ ). Cả B quá đói mà chẳng biết làm gì để có cái cho vào bụng. Tôi nảy ra ý định đi bắt trộm gà. Lập tức toàn bộ " cán bộ chiến sỹ " đều hưởng ứng nhiệt liệt. Nhà chú Tư ( chủ nhà cho chúng tôi ở nhờ ) đều đã đi sơ tán hết vì ở đó rất gần đường biên ( cách khoảng 400 mét ), chú có để lại 1 cặp bò ngủ cùng chúng tôi - Giường chúng tôi kê gọn một đầu, phía cuối giường là chỗ ngủ của 2 con bò - ngoài ra còn có mấy con gà thả rông. Tôi và anh Tâm ( cùng C11 với tôi - người Thanh hoá ) được phân công đi bắt gà, còn anh Cảnh cụt ( người Đông anh - HN ) được phân công sang anh nuôi đại đội xin gạo. Tôi đi ra ngoài vườn. Lũ gà nhà chú Tư toàn ngủ đậu trên các cành cây. Tôi khe khẽ luồn tay vào bụng con gà mái to nhất đang ngủ ngà ngủ gật. Con gà chỉ kêu nho nhỏ, vả lại trời đang mưa to nên có kêu tôi cũng không sợ gì. Qu..o..á ..c , con gà đã bị tôi vặn ngéo cổ. Anh Cảnh cụt nhờ tài ăn nói nên cũng xin được một mũ cối gạo. Lông, lòng ruột tất cả được cho vào túi nilon dấn chìm xuống ruộng lúa cạnh nhà. Cơm nóng, thịt gà rang... ôi sao mà ngon đến vậy. Chỉ có 4 anh em mà chơi hết cả nồi cơm to tướng ( một mũ cối gạo chứ đâu có ít ).- Anh Minh hy sinh rồi anh Thọ ạ. Ngay câu đầu tiên, Thọ “ con “ thông báo.
Tôi bàng hoàng cả người. Minh ơi, lẽ nào mày cũng đã ra đi. Tôi không thể cầm nổi nước mắt. Cái thằng Minh, thằng bạn thân nhất của tôi lẽ nào nó đã hy sinh. Lẽ nào cái Tổ Tam Tam thân yêu của chúng tôi chỉ còn lại bơ vơ một mình tôi sao? Tôi lặng người ngồi nghe Thọ “ con “ thuật lại diễn biến cuộc chiến đấu cuối cùng của Minh.
Ngày 11.08.1978, vừa sáng ra bọn địch đã tổ chức tấn công vào chốt của tiểu đoàn 3. Có sự yểm trợ của M113, bọn địch hung hãn lao vào tấn công các chốt của đại đội. Thằng Minh dũng cảm cùng với anh em đẩy lùi được nhiều đợt tấn công của địch. Khoảng 11 giờ trưa, chúng tổ chức tấn công lần nữa. Tiếng súng địch nổ toang toác khắp nơi. DK 82, DK 75 của chúng bắn như vãi đạn. Thằng Minh thấy xe M113 nó vượt qua cánh đồng trống trước mặt lao vào, nó vọt ra khỏi hầm vác B41 nện liên tiếp mấy trái. Khói súng toả ra mù mịt. Một sơ xuất chết người đã xảy ra. Sau khi bắn xong mấy trái B41, thằng Minh đã không di chuyển ngang. Chỗ đứng bắn bị lộ, bọn địch tập trung DK quất tới tấp vào chỗ Minh đang đứng. Một mảnh đạn cắm thẳng vào trán nó. Minh gục xuống. Anh em trong B lao ra kéo nó vào hầm. Một lúc sau, Minh tỉnh lại, mở mắt và bảo :
- Em lấy giúp anh cái ví.
Trong lúc nhào ra khỏi hầm để bắn, nó đánh rơi mất chiếc ví ở cạnh hầm. Thằng Thọ “ con “ nhặt chiếc ví đưa lại cho Minh. Nó từ từ mở ví ra. Đây ảnh gia đình nó lúc còn đông đủ, đây là ảnh Minh Nguyệt – Trăng sáng thân yêu của nó, đây những lá thư của Minh Nguyệt mà nó vừa nhận được. Minh từ từ xem lại tất cả rồi cất vào ví. Nó khó nhọc nói :
- Em cầm lấy chiếc ví này rồi đưa về cho anh Thọ.
Minh nói xong, nó nôn ra vài lần rồi nhắm mắt.
Cuộc chiến đấu càng về trưa càng trở lên khốc liệt. Các đại đội 13, 12 rồi đến đại đội 11 của tiểu đoàn 3 lần lượt bị đánh bật khỏi chốt. Do áp lực rất mạnh của địch. Thi hài của Minh cùng với ba chiến sỹ nữa của C11 vẫn nằm lại trên trận địa.
Minh ơi, thế là cái “ linh cảm “ khủng khiếp của mày đã trở thành sự thật. Thế là không bao giờ tao còn được nhìn thấy mày nữa.
Minh, Long hai thành viên của cái Tổ Tam Tam thân thuộc đã vĩnh viễn nằm xuống. Chúng mày đã chiến đấu một cách anh dũng. Chúng mày đã nằm xuống đầy vinh quang. Chúng mày không hổ danh là những chàng trai Hà thành sống, chết đầy kiêu hãnh. Minh ơi, Long ơi hãy yên nghỉ nhé. Vĩnh biệt chúng mày, hai người bạn thân yêu.
Chỉ khổ chú Tư, sáng hôm sau phát hiện mất con gà cứ đi tìm khắp xóm. Mấy anh em chúng tôi cũng hè nhau toả đi tìm giúp chú. He he.... Tìm mãi chẳng thấy !!!? Cả lũ liên an ủi chú Tư : Có lẽ hôm qua, trời mưa sấm chớp ầm ầm nên có lẽ nó sợ nên chạy đi đâu đó mất tiêu rồi chú ạ.
Có lẽ trong đời lính của tôi, không có thời gian nào trôi đi vô vị như những ngày nằm tại đại đội an dưỡng này. Suốt ngày chỉ nghĩ đến ăn mà cũng không xong. Cái đói lúc nào cũng thường trực trong dạ dày. Đói đến mức không thể đi đâu chơi được, ngày chỉ nằm chờ hai bữa cơm như cơm phát chẩn. Cả tháng chỉ có ngày lĩnh nhu yếu phẩm và phụ cấp là mặt mũi lũ thương binh chúng tôi mới tươi lên đôi chút. Có tiền, tôi và thằng Dụ ( Thanh hoá ) lập tức phải san sẻ cho những bà bán hủ tiếu ngoài thị trấn Gò Dầu ngay. Để lâu cũng không được, mất ngay ! Vì đói quá nên trong đại đội an dưỡng xuất hiện nhiều vụ lấy cắp quân tư trang của nhau. Tối nằm ngủ, tôi phải gối đầu mình lên chiếc ba lô, nhưng không thể lại được với các " Bố " nhà ta. Toàn cỡ ...trinh sát đặc công cấp....Bộ cả. Chúng nó chỉ rình lúc mình trở mình là...xong. Thế là lại trở về với nhất bộ quần áo mặc.... cả ngày.
Trên đơn vị, cả sư đoàn vừa tháo chạy sau một đợt tấn công của Pôn Pốt tại cầu Prasaut. Cả sư đoàn về đóng hết xung quanh Chi phu - phía đông cầu Tà yên. Đơn vị nghỉ ngơi, bổ xung trang bị, quân số.
Tháng 11.1978, nghe tin trên cứ Trảng lớn có đợt lính mới bổ xung về toàn lính Hà nội. Tôi liền nhảy xe đò về Trảng lớn tìm bạn và đồng hương Hà nội để hóng chuyện về quê hương. Chẳng có ai quen mặt nhưng cũng thoả được phần nào nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương. Rất nhiều lính Hà, lại Hoàn kiếm đàng hoàng nhé.
Sau 2 ngày, tôi trở về Tà beng ( À, bây giờ tôi nhớ ra rồi. Xóm ấy có tên là Tà Beng ). Cả đại đội vắng tanh như chùa Bà đanh. Hỏi những người còn lại, họ cho tôi biết cả đại đội lên D32 an dưỡng tại Trảng lớn để khám sức khoẻ và đi A.
Ôi, đi A - Chữ A đơn giản mà sao có sức hấp dẫn lũ thương binh chúng tôi lúc ấy đến thế. Đi A - là về quê hương, là về với gia đình thân thuộc, là sự sống, là hoà bình... đi A là tất cả với chúng tôi lúc đó.
Tôi lập tức nhảy xe quay lại Trảng lớn.
D32 an dưỡng của F9 nằm gọn ở một góc căn cứ Trảng Lớn, bên cạnh đại đội " thu dung ". Cả D bao gồm 5,6 dãy nhà tôn. Mái lợp tôn, tường cũng bằng tôn, gường nằm bằng sắt..." ấm " đáo để. Mặc dù tháng 11, 12 ngoài Miền Bắc đang rét cắt da, cắt thịt thì lũ chúng tôi đang bị hầm đến chảy mỡ trong những cái...lò tôn này. Thương binh thằng cụt tay, thằng cụt chân, thằng sọ não... đều chỉ " đánh " mỗi chiếc quần đùi, còn thì trần trùng trục hết. Ăn uống có khá hơn khi còn nằm dưới an dưỡng trung đoàn. Đại khái bữa ăn còn có tí rau, tí thịt mặc dù phần ngon thì cũng chẳng đến lượt thương binh, " Gà teo cơ, canh rau toàn quốc, nước chấm đại dương ". Thương binh ăn đủ ngày 3 bữa. Ăn xong là trà lá, cờ quạt... ( Cờ quạt chứ không phải là cờ bạc đâu nhé ) và...bắt rệp. Chao ôi, tôi chưa thấy ở đâu nhiều rệp như ở D32 này. Hôm nào nắng to, chúng tôi mang giát giường ra phơi. Từng đoàn quân họ nhà rệp lũ lượt kéo nhau từ những khe kẽ giát giường ra vì ánh mặt trời thiêu đốt. Chúng tôi không dám giết chúng bằng tay vì quá hôi. Một mảnh báo cuộn lại rồi đốt là xong. Rệp nổ lép bép như thóc rang.
Thương binh tại D32 này có phong trào thi đua rất sôi nổi. Đó là " treo tay " - Khẩu hiệu " chịu khó treo tay, có ngày ra Bắc " được thực hiện tương đối triệt để. Thằng cụt, thằng bị đạn nó phang trúng tay thì treo đã đành. Nhưng có những thằng bị mảnh M79 nó xiên, sẹo chỉ to bằng nốt ghẻ ruồi cũng rất " nhiệt tình, chịu khó " treo tay. Phải nói là một sự kiên trì ghê gớm, sự kiên trì khủng khiếp. Cánh tay bị dính ( dù chỉ rất nhẹ thôi ) được dùng một dải băng cứu thương treo cố định trước ngực. Cánh tay đó nằm cố định, không tham gia bất cứ hoạt động gì. Dần dần qua thời gian dài, nó teo lại. Chỉ còn da bọc xương, trông phát khiếp. Bác sỹ giám định y khoa nhìn thấy đã muốn ...đuổi ra Bắc rồi. Cánh tay như vậy còn " đánh đấm " gì nữa !!!? Vậy là thành công.. thành công... đại thành công rồi. Mời anh đóng vai chính bộ phim .... đường về quê Mẹ. Sướng !!!!
Rồi thì cũng đến ngày giám định y khoa, thương binh sau khi giám định xong được phân loại. Ai yếu sức khoẻ thì ra bắc, ai còn đủ sức khoẻ thì lên đường trở lại đơn vị. Tôi khám đạt thương binh loại 1 ( cũ ), không đủ tiêu chuẩn đi A nên chuẩn bị sẵn sàng trở về đơn vị. Được thôi, đây đâu có ngán gì !!!
Một buổi sáng, cán bộ đại đội gọi tôi lên giao nhiệm vụ :
- Các anh bên phòng chính trị của sư đoàn có sang xin em về ban chính sách sư đoàn. Ý em thế nào ?
- Dạ thưa, sang bên ấy làm công việc gì ạ? Tôi hỏi.
- Thì lo cất bốc hài cốt liệt sỹ chứ làm gì nữa.
- Vậy thì cho em về đơn vị chiến đấu. Tôi trả lời. Tôi nghĩ đến cảnh phải đi đào mộ, bốc xương bốc cốt mà rùng mình. Tôi vốn sợ ma lắm do vậy chẳng thà đi đánh nhau còn dễ chịu hơn. Anh cán bộ phòng 2 ( phòng chính trị ) không nói gì và ra về. Tôi đã xác định tư tưởng sẽ trở về trung đoàn tiếp tục tham gia chiến đấu. Mấy hôm sau, đại đội lại gọi tôi lên. Một sỹ quan đeo quân hàm thiếu uý tiếp tôi. Anh tự giới thiệu là Bùi Xuân Hùng - thiếu uý trợ lý phòng hậu cần sư đoàn. Anh hỏi tôi về trình độ văn hoá, quá trình công tác và có ý muốn xin tôi về phòng làm văn thư, thống kê. Văn thư, thống kê à? OK ! Tôi đồng ý ngay lắp tự. Ngay sáng hôm ấy, tôi làm thủ tục và khoác ba lô theo anh Hùng về phòng Hậu cần sư đoàn.
Phòng hậu cần sư đoàn nằm ngay cạnh đường băng sân bay Trảng lớn. Tôi được sắp xếp nơi ăn, chốn nghỉ khá là tươm tất. Ăn uống thì tự nấu lấy theo từng ban. Ở hậu cứ này, chỉ còn tôi, anh Hùng và thằng Nghĩa. Tất cả phòng chủ yếu nằm trên tiền phương hết. Bình thường, bữa ăn cũng chẳng có gì nhưng thỉnh thoảng anh Hùng lại đi ra chợ mua đồ ăn tươi về thế là... nhậu. Bia 33 con cọp thì " tạm ứng " ngay kho hậu cần. Cuộc sống có vẻ ngon lành, êm đềm. Nhưng, cái số tôi không thể ngồi yên một chỗ được. Nó cứ luôn nhấp nhổm, bứt dứt khó chịu. Cả ngày chẳng làm cái gì, chỉ chăm chăm đun nước, nấu ăn chán chết đi được.
Tổ tam tam - Lê Thái Thọ (P10)
Tại trạm phẫu trung đoàn, thương binh nằm la liệt khắp nơi. Tiếng kêu la, tiếng rên rỉ, những khuôn mặt méo đi vì đau đớn, cánh tay tôi giờ đã sưng vù to như bắp chuối làm phồng căng cả tay áo K74. Tôi ngồi dựa lưng vào cột nhà sàn nhìn ngó xung quanh. Trận đánh này trung đoàn chắc thiệt hại nặng. Hoá ra, trận nào mình chuẩn bị tinh thần để vào trận ác liệt thì lại nhàn, trận nào mình tưởng nhàn như đi chợ thì lại bị đánh đến “ biêu đầu mẻ trán “. Thương binh được phân loại ngay. Trọng thương – trung thương – khinh thương. Bộ phận phẫu chủ yếu là phân loại thương binh, băng bó và phát quần áo cho anh em nào quá rách, cho anh em ăn tạm bát cháo để lấy lại sức. Những chiếc xe tải chở thương đi lại tấp nập. Tôi được băng bó sơ qua, phân loại là trung thương rồi quẳng lên một chiếc xe chở về phẫu của sư đoàn đóng tại Chi Phu. Tại phẫu Chi Phu, bác sỹ Cường - người Hà nội cùng khối 68, tiểu khu Hàng Trống với tôi ( thấy bác sỹ bảo vậy – hay cũng là một cách động viên đây ) trực tiếp chăm sóc vết thương cho tôi. Nhìn vết thương đầy bùn đất, bác sỹ bảo :
- Để tránh bị nhiễm vi trùng uốn ván, tốt nhất là em để anh cắt bàn tay đi cho an toàn.
- Ấy anh ơi, anh mà cắt cụt tay em thì em còn làm ăn được gì? Tôi nghĩ đến bàn tay viết lách nay cụt lủn. Chán chẳng buồn chết.
- Anh cố gắng giữ cho em. Tôi nài nỉ.
Bác sỹ không nói gì, anh cắt lọc rồi đổ ôxy già vào rửa vết thương. Anh đổ vào vết thương của tôi 1 lọ Penicelin bột rồi khâu túm lại.
- Anh chỉ sơ cứu tạm thế này, chiều về Sài gòn, các bác sỹ ở đấy sẽ sử lý tiếp nhé.
Chiếc ô tô tải thương của sư đoàn chở tiếp chúng tôi về Mộc bài thì dừng lại. Các Má, các chị ở đấy xúm lại đỡ bọn thương binh chúng tôi xuống xe. Nào nước mía, nào bánh ú, bánh mì.... Nhưng tôi thì không uống nổi, nuốt nổi. Phần thì đau, phần thì sợ uống vào sẽ loãng máu mà chết.
Chiếc máy bay HU1A phành phạch đến đón chúng tôi. Quả này có khi được về thẳng viện 108 cũng nên, Tôi thầm nghĩ vơ vẩn.
Lên máy bay, do rung lắc mạnh. Một thương binh trong số bọn tôi bị thương vào đầu, ộc máu ra.... Từ thương binh anh đã chuyển sang... từ trần. Tôi nằm thiếp đi trong cơn đau đớn và mệt mỏi.
Sân bay Tân Sơn Nhất buổi chiều nóng giẫy. Hơi nóng phả từ đường băng bốc lên ngột ngạt. Chiếc HU1A từ từ tắt máy, những chiếc xe cứu thương đợi sẵn từ bao giờ nhanh chóng áp sát. Mấy cô y tá trẻ măng, mặc áo bờ lu trắng toát nhẹ nhàng chuyển chúng tôi từ máy bay xuống xe. Đồng chí liệt sỹ được “ ưu tiên “ một mình một xe, còn chúng tôi cứ ba, bốn thằng một xe cùng y tá lao nhanh về viện, vừa đi xe vừa hú còi inh ỏi. Chúng tôi đến viện 115 ( đường Nguyễn tri Phương thì phải ) và nhanh chóng được đưa ngay vào phòng cấp cứu. Sau khi cắt lọc lại, vết thương của tôi được khâu vá và định vị lại phần xương mỏm chân quay bị vỡ. Rất may là không phải cắt cụt. Mừng hết biết !!!.
Ngày hôm sau, tại phòng bệnh trên tầng hai, tôi nằm cùng với một lính của F341, vết thương thấu phổi và gãy tay trái. Lúc nói chuyện tôi được biết nó cũng là người Hà nội, nhà trên đường Tây sơn – đối diện gò Đống đa. Ngày mai, nó có tên trong danh sách đi A, sẽ lên máy bay ra điều trị tại viện 103 trong Hà đông. May quá. Tôi liền nhắn gửi nó báo tin cho gia đình biết tình hình của tôi. Đến bây giờ, tôi và gia đình cũng không nhớ được cậu bạn mới quen ấy tên là gì? số nhà bao nhiêu đường Tây sơn. Thật là ân hận. Chỉ biết rằng, chỉ 3, 4 ngày hôm sau, gia đình tôi đã biết tin về tôi.
Phòng bệnh tôi nằm điều trị rất đông thương binh, phải đến 50 giường, chia làm hai dãy. Thương binh đủ các loại, từ các mặt trận gửi về. Sáng sáng đó đây vang lên tiếng ..tá bô... tá bô.. ầm ĩ. ( lẽ ra phải gọi : Y tá ơi, cho tôi xin cái bô ). Cả phòng chỉ có hai em y tá phục vụ, làm sao có thể kịp đưa ...bô cho các “ bố “ được. Mà chỉ chậm một chút là các “ bố “ bĩnh ngay ra giường. Thật quá quắt. Đã vậy, mấy ông thương binh nặng lại còn chơi khăm. Họ bố trí cho hai thằng ở hai đầu cùng nhau gọi bô, chưa xong cho hai thằng đầu, thằng ở giữa phòng lại gọi. Cứ thế.. cứ thế.. họ hành hạ hai cô bé đến là tội. Phục vụ tôi là cô y tá tên Mai - người Sài gòn, nói năng nhỏ nhẹ không biết cáu bao giờ. Mặc cho các thương binh cáu gắt, giận dỗi, Mai vẫn nhẹ nhàng làm tốt công việc theo chức trách. Nào đưa thương binh đi tắm, nào đi xem tivi, nào mắc mùng... Tôi vô cùng biết ơn và cảm phục cô y tá ngày ấy. Tôi biết ơn bác sỹ Chín ( tôi không biết tên mà chỉ thấy mọi người gọi theo thứ ), người bác sỹ của QL VNCH đã nhiệt tình chăm sóc vết thương cho tôi. Tôi cũng nhớ mãi cái cách tiêm của bác sỹ, trông sợ vô cùng. Bác sỹ cầm xi lanh trên tay, phi đánh phập một cái vào bắp tay rồi bơm thuốc nhưng lại chẳng gây đau cho thương binh chúng tôi.
Tôi nằm cùng với một cậu ở F7, cậu ta bị thương vào ổ bụng. Hai thằng chúng tôi cứ thay nhau, hôm nay mày báo ăn cháo sữa thì tao báo ăn cháo thịt, ngày mai lại ngược lại. Cháo thịt thì mỗi xuất nửa chậu nhôm, cháo sữa thì một ngày một hộp “ Ông Thọ “. Hai chúng tôi ăn chung một xuất cháo thịt vẫn không hết. Sữa thì cuối tuần gom lại ra ngoài bán 7 đồng một hộp. Tiền tiêu thoải mái luôn. Tôi nhờ nó viết thư cho ông anh rể của tôi lúc ấy cũng đang là bộ đội ở QK9. Từ ngày gửi thư, chiều nào tôi cũng ra cổng viện mong ngóng anh. Mong hoài mà chẳng thấy tăm hơi. Buồn thật !!!!
Vết thương của tôi cũng liền miệng nhanh chóng, tôi được chuyển về Quân y viện 4 của quân đoàn tại căn cứ Sóng Thần – Bình dương.
Cuối tháng 7.1978, tôi ra viện về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Lại vòng vèo Sóng thần, Đồng dù, Trảng lớn. Lần này tôi đi một mình với phương tiện tự túc. Cuối cùng, bước chân của tôi đã dừng tại cứ ba lô của đại đội tại Mộc bài. Trong cứ cũng toàn thương binh.
Tôi dừng tại cứ một ngày, đến ngày 27.07.1978 thì tôi quyết định đi bộ lên chốt, lúc ấy trung đoàn tôi vẫn ở Nam Prasaut đóng tại Prey tayung còn tiểu đoàn 3 chốt tại Phum Prey Chamna. Chẳng mấy chốc tôi đã đến Ba vét, chỉ huy sở sư đoàn 9 đang trú tại đây. Mệt ! tôi ghé vào nghỉ chân tại dãy nhà đầu tiên. Đây là dãy nhà của phòng Hậu cần sư đoàn. Thấy tôi, một thương binh còn đang băng cuốn kín tay, mấy anh trong ban quân nhu sư đoàn mời tôi vào ngồi nghỉ, uống nước. Hôm đó đúng ngày 27.07, ngày TBLS nên trên bàn còn có bánh kẹo, bia “ con cọp “... Tôi đang ngồi nói chuyện, một chiếc xe “ Đốt - hồng thập tự “ dừng lại đỗ ngay ven đường. Anh lái xe bước vào xin ngụm nước. Chắc đã quen nhau, mấy lính quân nhu hỏi :
- Xe chở gì vậy anh ?
- À, chở một tử sỹ của C11, D3, E1. Anh lái xe trả lời.
Nghe đến vậy, tôi giật thót người. Đúng đại đội tôi rồi. Tôi thoáng nghĩ đến thằng Minh. Lúc này, chắc nó đã ra viện. Mình nặng như thế mà còn đi viện chưa đến một tháng mà vết thương của nó thì ....
Nghĩ đến đó, tôi hỏi anh lái xe :
- Anh ơi, cho em hỏi một chút. Liệt sỹ tên là gì vậy anh?
- Long ! Lê Phú Long – Hà nội. Bị lĩnh trọn một quả AT tăng vào rạng sáng nay.
Trời ơi, ( anh lái xe chắc nhầm đơn vị. C14 thành C11 ). Long ơi, mày đã bị rồi sao? Tôi chạy vội ra xe, chiếc xe “ đốt “ cũng thấp. Tôi nhìn vào xe. Thằng Long nằm đó, mắt nhắm nghiền, một mảng ngực và cánh tay trái bay đi đâu mất. Máu, máu đông lại đen đặc. Long ơi, thế là Tổ Tam tam của chúng mình đã mất đi một thành viên, thế là cái lời nhắn nhủ trên bãi cỏ trước cổng E36 đã một phần biến thành hiện thực, thế là hết những mộng mơ về cổng trường đại học của mày.. thế là... thế là... hết Long ơi. Chiếc xe chở Long đi rồi, tôi vẫn còn thần thờ nhìn theo... những đám bụi cuốn theo bánh xe chạy....mờ dần...mờ dần rồi khuất hẳn, nước mắt tôi giàn giụa.
Không còn bụng dạ nào để tiếp tục ngồi uống nước, tôi lập tức tiếp tục lên đường, bước chân bây giờ trở nên nặng nề. Những hình ảnh của thằng Long cứ bán riết lấy tôi lên đến tận nơi tiểu đoàn đứng chân. Người đầu tiên tôi gặp là thằng Hoan – N. C. Hoan ở phố HT. Nó cùng C14 với thằng Long, nhưng thằng Hoan làm liên lạc cho đại đội. Tôi hỏi han tình hình về cái chết của thằng Long, nó cứ u a ú ớ. Cái thằng này cho đến bây giờ cũng vậy, cứ động nói đến những năm tháng khói lửa ngày xưa là nó có vẻ chẳng mặn mà. Hắn chỉ thích nói đến việc xây dựng kinh tế gia đình, làm ăn, buôn bán. Mặc dù bây giờ vẫn đang đeo quân hàm trung tá hay thượng tá gì đó. Buồn hết sức cho những người đồng đội chóng quên quá khứ như vậy. ( Hoan à, nếu mày có đọc những dòng này, mày đừng giận tao nhé. Điều đó cũng lý giải tại sao tao ít ghé qua nhà mày. Bởi gặp mày, tao cũng chẳng biết nói chuyện gì cả - thứ lỗi nhé Hoan ).
Tôi nhanh chóng hỏi đường về C11, đại đội thân yêu của tôi, nơi mà thằng Minh đang làm tôi lo lắng đến cháy ruột gan. C11 của tôi kia rồi. Đại đội nằm bên một khoảng đất tương đối rộng. Hầm quan sát sở đại đội nằm ngay cạnh ven đường. Băng qua khoảng đất rộng là hầm tiên tiêu của thằng Minh. Nhìn thấy tôi, thằng Minh chạy lại ôm chầm lấy tôi toe toét cười :
- Mày về rồi đấy à? Thế vết thương có nặng lắm không? Mày “ bị “ mà tao chẳng biết mày nằm ở đâu để đến chơi.... Nó hỏi tôi một thôi, một hồi làm tôi chẳng kịp trả lời.
- Thôi, mày về hầm tao nhé. Thằng Minh phán.
Nó chẳng cần biết tôi có được đại đội phân về với nó nữa hay không. Nó cứ làm như nó là...đại đội trưởng không bằng. Nó rủ tôi ra chỗ bốn cây Thốt lốt mọc thẳng thành một hàng, giải ni lon ra rồi hai thằng nằm nói chuyện. Chuyện nó đi viện ra sao? nó bỏ đi chơi Sài gòn như thế nào ? chuyện “oánh đấm “ vừa qua ai còn, ai mất? Chuyện nó mới nhận được thư Trăng sáng. Nó khoe :
- Nàng đã “ chấp nhận “ lời tỏ tình của tao rồi. Thằng Minh nói giọng đầy phấn chấn.
Trong thời gian tôi đi viện, đại đội có nhiều đổi thay. Thằng Màu cũng bị thương rồi, trong đơn vị xuất hiện toàn chiến sỹ mới. Cán bộ chỉ huy cũng mới. Nó bây giờ chuyển sang bắn B41... Tôi thông báo cho nó vụ thằng Long bị “ dính “, nó lặng người trầm ngâm. Đến bây giờ nó mới được biết. Thằng Minh có vẻ rắn rỏi và trưởng thành lên rất nhiều, nằm nói chuyện với tôi, nghe 12.8 ly của địch nổ toang toác mà tôi thấy nó hầu như chẳng để ý gì đến. Còn tôi cứ giật mình thon thót. Bạn không biết chứ, gần một tháng được nằm nơi hoà bình, phố phường đô hội, cơm có người bưng, nước có người rót, tắm có người kỳ lưng.. con người ta chóng “ hư “ quá. Những phản xạ có được nhờ trải qua trận mạc bỗng biến đâu mất cả. Giờ đây, nghe tiếng đạn nổ đầu nòng cũng đã giật bắn mình. Trong sâu thẳm, le lói trong tôi một nỗi sợ mơ hồ. Chán thật !!!
Đến cuối giờ chiều, đại đội gọi tôi lên. Đại đội trưởng ( mới ) thông báo cho tôi biết : Theo thông báo của tiểu đoàn, do vết thương của tôi chưa ổn định nên tiểu đoàn quyết định tôi sẽ về tập trung tại trung đoàn để đi an dưỡng một thời gian. Khi nào vết thương bình phục hoàn toàn sẽ trở về đơn vị. Tôi vừa mừng vừa buồn lẫn lộn. Tôi lại sắp xa thằng Minh rồi, đến bao giờ mới gặp lại nó đây.
Chiều tà, tôi lên đường trở lại chỉ huy sở trung đoàn. Thằng Minh tiễn tôi đến tận quan sát sở tiểu đoàn. Tôi và nó dặn dò nhau đủ thứ. Với vẻ tần ngần, nó lấy ví, chiếc ví nhựa màu xanh có in hình một cô gái nghiêng đầu cười nhay nháy mắt quen thuộc. Nó rút ra đưa cho tôi một tấm ảnh chân dung. Tấm chân dung chụp nó nhìn nghiêng, mặc quân phục sao, tiết đang hoàng hồi ở Xuân Mai.
- Tao tặng mày tấm ảnh này, mày cầm lấy làm kỷ niệm Thọ nhé.
Giọng thằng Minh nghe chừng xúc động. Tôi chưa từng thấy nó như thế bao giờ.
- Mày thật vớ vẩn. Tao chỉ đi an dưỡng một thời gian rồi tao lại trở về với mày thôi mà. Tôi gạt đi.
Tôi đã từng chứng kiến những “ linh cảm “, những “ kiêng cữ “ vô cùng chính xác nhưng vô cùng khó giải thích của những người lính chiến chúng tôi. Tôi lo sợ rằng, hành động của Minh như thế này có lẽ báo trước một điều gì đó chăng?
- Mày cứ cầm lấy cho tao vui. Nếu khi mày trở lại đơn vị, mình còn gặp lại nhau thì tao sẽ xin lại.
Thằng Minh nói dứt khoát.
Thế là đúng rồi. Thằng Minh chắc đã có những linh cảm rất rõ ràng nên nó mới hành động như thế. Tôi nhận tấm ảnh từ tay Minh mà trong lòng buồn rười rượi. Tôi linh cảm rõ ràng lần gặp nhau này của chúng tôi là lần cuối cùng.
- Mày ở lại nhớ cẩn thận nhé, Minh nhé. Tôi xúc động dặn dò.
- Cứ yên tâm đi. Nó toét miệng cười rạng rỡ. Nó muốn làm tôi vui đây.
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, nước mắt tôi trào ra.
- Thôi, mày đi đi. Nó đẩy tôi ra rồi quay đầu rảo bước.
Tôi đứng nhìn theo cái dáng cao gầy của nó mãi cho đến khi bóng nó khuất sau rặng le ven đường. Tôi trở về trung đoàn trong những bước đi nặng nề. Quãng đường không xa mà sao cảm thấy như là vô tận.
Sáng hôm sau, nhập vào đoàn thương binh của trung đoàn, chúng tôi lại cuốc bộ về Bến Cầu, nơi đại đội an dưỡng Trung đoàn đứng chân. Về đến cứ Ba lô Mộc bài, tôi nghỉ lại ở đó mấy ngày.
Vừa về đến Mộc bài buổi sáng thì buổi chiều, Bố tôi lặn lội vào thăm tôi. Ôi, cha con gặp nhau mừng rỡ. Thì ra, cậu bạn cùng nằm với tôi ở viện 115 đã báo tin tôi bị thương. Cả gia đình vô cùng lo lắng. Bố tôi bố trí sắp xếp công việc xong, liền đi ngay vào thăm tôi. Ông cứ lang thang khắp mọi nơi tôi đã từng đi qua. Viện 115, viện QĐ4. Đồng dù, Trảng lớn... Đến đâu người ta cũng bảo tôi vừa ở đây nhưng đã đi rồi. Cứ thế, bước chân tìm con của Bố tôi cuối cùng dừng lại tại cứ ba lô của đại đội - Cứ Mộc Bài. Tôi và các anh trong cứ bố trí cho bố tôi một chỗ nằm trong ngôi chùa đổ nát. Ăn uống thì chẳng có gì chỉ có cơm, rau, tép và.... thịt chuột. Bố tôi sợ hãi ra mặt.
- Chà lính tráng ăn ở tạm bợ quá con ạ. Hồi ở Điện biên, khó khăn gian khổ thế nhưng cũng không đến nỗi như các con bây giờ. Bố tôi than phiền.
Đã thế, mấy ông thương binh đại đội lại còn kể với bố tôi chuyện rằng tháng trước mấy thằng trinh sát Miên bò vào giết chết cả chục thương binh ở trạm phẫu ngay bên kia đường, nào là chuyện ở đây, cách biên giói có chưa đầy trăm mét, Miên vẫn ì oàng tập kích suốt.... Sợ quá, hai hôm sau ông đòi tôi đưa về thành phố Hồ chí Minh ngay. Tôi đưa ngay ông về thành phố, vả lại tôi cũng không thích ông ở đây lâu làm gì. Ở nhà Mẹ tôi đang ốm yếu, rất cần có ông ở bên cạnh.
Tôi trở về cứ đại đội, lấy Ba lô của thằng Long bên cứ C14 gần đó mang ra bưu điện Gò dầu Hạ để gửi về cho gia đình nó những di vật cuối cùng. Tôi phải hoàn thành cái lời hứa của Tổ Tam tam trước lúc lên đường. Xong xuôi, tôi “ nhập tịch “ vào đại đội an dưỡng K24.
- Để tránh bị nhiễm vi trùng uốn ván, tốt nhất là em để anh cắt bàn tay đi cho an toàn.
- Ấy anh ơi, anh mà cắt cụt tay em thì em còn làm ăn được gì? Tôi nghĩ đến bàn tay viết lách nay cụt lủn. Chán chẳng buồn chết.
- Anh cố gắng giữ cho em. Tôi nài nỉ.
Bác sỹ không nói gì, anh cắt lọc rồi đổ ôxy già vào rửa vết thương. Anh đổ vào vết thương của tôi 1 lọ Penicelin bột rồi khâu túm lại.
- Anh chỉ sơ cứu tạm thế này, chiều về Sài gòn, các bác sỹ ở đấy sẽ sử lý tiếp nhé.
Chiếc ô tô tải thương của sư đoàn chở tiếp chúng tôi về Mộc bài thì dừng lại. Các Má, các chị ở đấy xúm lại đỡ bọn thương binh chúng tôi xuống xe. Nào nước mía, nào bánh ú, bánh mì.... Nhưng tôi thì không uống nổi, nuốt nổi. Phần thì đau, phần thì sợ uống vào sẽ loãng máu mà chết.
Chiếc máy bay HU1A phành phạch đến đón chúng tôi. Quả này có khi được về thẳng viện 108 cũng nên, Tôi thầm nghĩ vơ vẩn.
Lên máy bay, do rung lắc mạnh. Một thương binh trong số bọn tôi bị thương vào đầu, ộc máu ra.... Từ thương binh anh đã chuyển sang... từ trần. Tôi nằm thiếp đi trong cơn đau đớn và mệt mỏi.
Sân bay Tân Sơn Nhất buổi chiều nóng giẫy. Hơi nóng phả từ đường băng bốc lên ngột ngạt. Chiếc HU1A từ từ tắt máy, những chiếc xe cứu thương đợi sẵn từ bao giờ nhanh chóng áp sát. Mấy cô y tá trẻ măng, mặc áo bờ lu trắng toát nhẹ nhàng chuyển chúng tôi từ máy bay xuống xe. Đồng chí liệt sỹ được “ ưu tiên “ một mình một xe, còn chúng tôi cứ ba, bốn thằng một xe cùng y tá lao nhanh về viện, vừa đi xe vừa hú còi inh ỏi. Chúng tôi đến viện 115 ( đường Nguyễn tri Phương thì phải ) và nhanh chóng được đưa ngay vào phòng cấp cứu. Sau khi cắt lọc lại, vết thương của tôi được khâu vá và định vị lại phần xương mỏm chân quay bị vỡ. Rất may là không phải cắt cụt. Mừng hết biết !!!.
Ngày hôm sau, tại phòng bệnh trên tầng hai, tôi nằm cùng với một lính của F341, vết thương thấu phổi và gãy tay trái. Lúc nói chuyện tôi được biết nó cũng là người Hà nội, nhà trên đường Tây sơn – đối diện gò Đống đa. Ngày mai, nó có tên trong danh sách đi A, sẽ lên máy bay ra điều trị tại viện 103 trong Hà đông. May quá. Tôi liền nhắn gửi nó báo tin cho gia đình biết tình hình của tôi. Đến bây giờ, tôi và gia đình cũng không nhớ được cậu bạn mới quen ấy tên là gì? số nhà bao nhiêu đường Tây sơn. Thật là ân hận. Chỉ biết rằng, chỉ 3, 4 ngày hôm sau, gia đình tôi đã biết tin về tôi.
Phòng bệnh tôi nằm điều trị rất đông thương binh, phải đến 50 giường, chia làm hai dãy. Thương binh đủ các loại, từ các mặt trận gửi về. Sáng sáng đó đây vang lên tiếng ..tá bô... tá bô.. ầm ĩ. ( lẽ ra phải gọi : Y tá ơi, cho tôi xin cái bô ). Cả phòng chỉ có hai em y tá phục vụ, làm sao có thể kịp đưa ...bô cho các “ bố “ được. Mà chỉ chậm một chút là các “ bố “ bĩnh ngay ra giường. Thật quá quắt. Đã vậy, mấy ông thương binh nặng lại còn chơi khăm. Họ bố trí cho hai thằng ở hai đầu cùng nhau gọi bô, chưa xong cho hai thằng đầu, thằng ở giữa phòng lại gọi. Cứ thế.. cứ thế.. họ hành hạ hai cô bé đến là tội. Phục vụ tôi là cô y tá tên Mai - người Sài gòn, nói năng nhỏ nhẹ không biết cáu bao giờ. Mặc cho các thương binh cáu gắt, giận dỗi, Mai vẫn nhẹ nhàng làm tốt công việc theo chức trách. Nào đưa thương binh đi tắm, nào đi xem tivi, nào mắc mùng... Tôi vô cùng biết ơn và cảm phục cô y tá ngày ấy. Tôi biết ơn bác sỹ Chín ( tôi không biết tên mà chỉ thấy mọi người gọi theo thứ ), người bác sỹ của QL VNCH đã nhiệt tình chăm sóc vết thương cho tôi. Tôi cũng nhớ mãi cái cách tiêm của bác sỹ, trông sợ vô cùng. Bác sỹ cầm xi lanh trên tay, phi đánh phập một cái vào bắp tay rồi bơm thuốc nhưng lại chẳng gây đau cho thương binh chúng tôi.
Tôi nằm cùng với một cậu ở F7, cậu ta bị thương vào ổ bụng. Hai thằng chúng tôi cứ thay nhau, hôm nay mày báo ăn cháo sữa thì tao báo ăn cháo thịt, ngày mai lại ngược lại. Cháo thịt thì mỗi xuất nửa chậu nhôm, cháo sữa thì một ngày một hộp “ Ông Thọ “. Hai chúng tôi ăn chung một xuất cháo thịt vẫn không hết. Sữa thì cuối tuần gom lại ra ngoài bán 7 đồng một hộp. Tiền tiêu thoải mái luôn. Tôi nhờ nó viết thư cho ông anh rể của tôi lúc ấy cũng đang là bộ đội ở QK9. Từ ngày gửi thư, chiều nào tôi cũng ra cổng viện mong ngóng anh. Mong hoài mà chẳng thấy tăm hơi. Buồn thật !!!!
Vết thương của tôi cũng liền miệng nhanh chóng, tôi được chuyển về Quân y viện 4 của quân đoàn tại căn cứ Sóng Thần – Bình dương.
Cuối tháng 7.1978, tôi ra viện về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Lại vòng vèo Sóng thần, Đồng dù, Trảng lớn. Lần này tôi đi một mình với phương tiện tự túc. Cuối cùng, bước chân của tôi đã dừng tại cứ ba lô của đại đội tại Mộc bài. Trong cứ cũng toàn thương binh.
Tôi dừng tại cứ một ngày, đến ngày 27.07.1978 thì tôi quyết định đi bộ lên chốt, lúc ấy trung đoàn tôi vẫn ở Nam Prasaut đóng tại Prey tayung còn tiểu đoàn 3 chốt tại Phum Prey Chamna. Chẳng mấy chốc tôi đã đến Ba vét, chỉ huy sở sư đoàn 9 đang trú tại đây. Mệt ! tôi ghé vào nghỉ chân tại dãy nhà đầu tiên. Đây là dãy nhà của phòng Hậu cần sư đoàn. Thấy tôi, một thương binh còn đang băng cuốn kín tay, mấy anh trong ban quân nhu sư đoàn mời tôi vào ngồi nghỉ, uống nước. Hôm đó đúng ngày 27.07, ngày TBLS nên trên bàn còn có bánh kẹo, bia “ con cọp “... Tôi đang ngồi nói chuyện, một chiếc xe “ Đốt - hồng thập tự “ dừng lại đỗ ngay ven đường. Anh lái xe bước vào xin ngụm nước. Chắc đã quen nhau, mấy lính quân nhu hỏi :
- Xe chở gì vậy anh ?
- À, chở một tử sỹ của C11, D3, E1. Anh lái xe trả lời.
Nghe đến vậy, tôi giật thót người. Đúng đại đội tôi rồi. Tôi thoáng nghĩ đến thằng Minh. Lúc này, chắc nó đã ra viện. Mình nặng như thế mà còn đi viện chưa đến một tháng mà vết thương của nó thì ....
Nghĩ đến đó, tôi hỏi anh lái xe :
- Anh ơi, cho em hỏi một chút. Liệt sỹ tên là gì vậy anh?
- Long ! Lê Phú Long – Hà nội. Bị lĩnh trọn một quả AT tăng vào rạng sáng nay.
Trời ơi, ( anh lái xe chắc nhầm đơn vị. C14 thành C11 ). Long ơi, mày đã bị rồi sao? Tôi chạy vội ra xe, chiếc xe “ đốt “ cũng thấp. Tôi nhìn vào xe. Thằng Long nằm đó, mắt nhắm nghiền, một mảng ngực và cánh tay trái bay đi đâu mất. Máu, máu đông lại đen đặc. Long ơi, thế là Tổ Tam tam của chúng mình đã mất đi một thành viên, thế là cái lời nhắn nhủ trên bãi cỏ trước cổng E36 đã một phần biến thành hiện thực, thế là hết những mộng mơ về cổng trường đại học của mày.. thế là... thế là... hết Long ơi. Chiếc xe chở Long đi rồi, tôi vẫn còn thần thờ nhìn theo... những đám bụi cuốn theo bánh xe chạy....mờ dần...mờ dần rồi khuất hẳn, nước mắt tôi giàn giụa.
Không còn bụng dạ nào để tiếp tục ngồi uống nước, tôi lập tức tiếp tục lên đường, bước chân bây giờ trở nên nặng nề. Những hình ảnh của thằng Long cứ bán riết lấy tôi lên đến tận nơi tiểu đoàn đứng chân. Người đầu tiên tôi gặp là thằng Hoan – N. C. Hoan ở phố HT. Nó cùng C14 với thằng Long, nhưng thằng Hoan làm liên lạc cho đại đội. Tôi hỏi han tình hình về cái chết của thằng Long, nó cứ u a ú ớ. Cái thằng này cho đến bây giờ cũng vậy, cứ động nói đến những năm tháng khói lửa ngày xưa là nó có vẻ chẳng mặn mà. Hắn chỉ thích nói đến việc xây dựng kinh tế gia đình, làm ăn, buôn bán. Mặc dù bây giờ vẫn đang đeo quân hàm trung tá hay thượng tá gì đó. Buồn hết sức cho những người đồng đội chóng quên quá khứ như vậy. ( Hoan à, nếu mày có đọc những dòng này, mày đừng giận tao nhé. Điều đó cũng lý giải tại sao tao ít ghé qua nhà mày. Bởi gặp mày, tao cũng chẳng biết nói chuyện gì cả - thứ lỗi nhé Hoan ).
Tôi nhanh chóng hỏi đường về C11, đại đội thân yêu của tôi, nơi mà thằng Minh đang làm tôi lo lắng đến cháy ruột gan. C11 của tôi kia rồi. Đại đội nằm bên một khoảng đất tương đối rộng. Hầm quan sát sở đại đội nằm ngay cạnh ven đường. Băng qua khoảng đất rộng là hầm tiên tiêu của thằng Minh. Nhìn thấy tôi, thằng Minh chạy lại ôm chầm lấy tôi toe toét cười :
- Mày về rồi đấy à? Thế vết thương có nặng lắm không? Mày “ bị “ mà tao chẳng biết mày nằm ở đâu để đến chơi.... Nó hỏi tôi một thôi, một hồi làm tôi chẳng kịp trả lời.
- Thôi, mày về hầm tao nhé. Thằng Minh phán.
Nó chẳng cần biết tôi có được đại đội phân về với nó nữa hay không. Nó cứ làm như nó là...đại đội trưởng không bằng. Nó rủ tôi ra chỗ bốn cây Thốt lốt mọc thẳng thành một hàng, giải ni lon ra rồi hai thằng nằm nói chuyện. Chuyện nó đi viện ra sao? nó bỏ đi chơi Sài gòn như thế nào ? chuyện “oánh đấm “ vừa qua ai còn, ai mất? Chuyện nó mới nhận được thư Trăng sáng. Nó khoe :
- Nàng đã “ chấp nhận “ lời tỏ tình của tao rồi. Thằng Minh nói giọng đầy phấn chấn.
Trong thời gian tôi đi viện, đại đội có nhiều đổi thay. Thằng Màu cũng bị thương rồi, trong đơn vị xuất hiện toàn chiến sỹ mới. Cán bộ chỉ huy cũng mới. Nó bây giờ chuyển sang bắn B41... Tôi thông báo cho nó vụ thằng Long bị “ dính “, nó lặng người trầm ngâm. Đến bây giờ nó mới được biết. Thằng Minh có vẻ rắn rỏi và trưởng thành lên rất nhiều, nằm nói chuyện với tôi, nghe 12.8 ly của địch nổ toang toác mà tôi thấy nó hầu như chẳng để ý gì đến. Còn tôi cứ giật mình thon thót. Bạn không biết chứ, gần một tháng được nằm nơi hoà bình, phố phường đô hội, cơm có người bưng, nước có người rót, tắm có người kỳ lưng.. con người ta chóng “ hư “ quá. Những phản xạ có được nhờ trải qua trận mạc bỗng biến đâu mất cả. Giờ đây, nghe tiếng đạn nổ đầu nòng cũng đã giật bắn mình. Trong sâu thẳm, le lói trong tôi một nỗi sợ mơ hồ. Chán thật !!!
Đến cuối giờ chiều, đại đội gọi tôi lên. Đại đội trưởng ( mới ) thông báo cho tôi biết : Theo thông báo của tiểu đoàn, do vết thương của tôi chưa ổn định nên tiểu đoàn quyết định tôi sẽ về tập trung tại trung đoàn để đi an dưỡng một thời gian. Khi nào vết thương bình phục hoàn toàn sẽ trở về đơn vị. Tôi vừa mừng vừa buồn lẫn lộn. Tôi lại sắp xa thằng Minh rồi, đến bao giờ mới gặp lại nó đây.
Chiều tà, tôi lên đường trở lại chỉ huy sở trung đoàn. Thằng Minh tiễn tôi đến tận quan sát sở tiểu đoàn. Tôi và nó dặn dò nhau đủ thứ. Với vẻ tần ngần, nó lấy ví, chiếc ví nhựa màu xanh có in hình một cô gái nghiêng đầu cười nhay nháy mắt quen thuộc. Nó rút ra đưa cho tôi một tấm ảnh chân dung. Tấm chân dung chụp nó nhìn nghiêng, mặc quân phục sao, tiết đang hoàng hồi ở Xuân Mai.
- Tao tặng mày tấm ảnh này, mày cầm lấy làm kỷ niệm Thọ nhé.
Giọng thằng Minh nghe chừng xúc động. Tôi chưa từng thấy nó như thế bao giờ.
- Mày thật vớ vẩn. Tao chỉ đi an dưỡng một thời gian rồi tao lại trở về với mày thôi mà. Tôi gạt đi.
Tôi đã từng chứng kiến những “ linh cảm “, những “ kiêng cữ “ vô cùng chính xác nhưng vô cùng khó giải thích của những người lính chiến chúng tôi. Tôi lo sợ rằng, hành động của Minh như thế này có lẽ báo trước một điều gì đó chăng?
- Mày cứ cầm lấy cho tao vui. Nếu khi mày trở lại đơn vị, mình còn gặp lại nhau thì tao sẽ xin lại.
Thằng Minh nói dứt khoát.
Thế là đúng rồi. Thằng Minh chắc đã có những linh cảm rất rõ ràng nên nó mới hành động như thế. Tôi nhận tấm ảnh từ tay Minh mà trong lòng buồn rười rượi. Tôi linh cảm rõ ràng lần gặp nhau này của chúng tôi là lần cuối cùng.
- Mày ở lại nhớ cẩn thận nhé, Minh nhé. Tôi xúc động dặn dò.
- Cứ yên tâm đi. Nó toét miệng cười rạng rỡ. Nó muốn làm tôi vui đây.
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, nước mắt tôi trào ra.
- Thôi, mày đi đi. Nó đẩy tôi ra rồi quay đầu rảo bước.
Tôi đứng nhìn theo cái dáng cao gầy của nó mãi cho đến khi bóng nó khuất sau rặng le ven đường. Tôi trở về trung đoàn trong những bước đi nặng nề. Quãng đường không xa mà sao cảm thấy như là vô tận.
Sáng hôm sau, nhập vào đoàn thương binh của trung đoàn, chúng tôi lại cuốc bộ về Bến Cầu, nơi đại đội an dưỡng Trung đoàn đứng chân. Về đến cứ Ba lô Mộc bài, tôi nghỉ lại ở đó mấy ngày.
Vừa về đến Mộc bài buổi sáng thì buổi chiều, Bố tôi lặn lội vào thăm tôi. Ôi, cha con gặp nhau mừng rỡ. Thì ra, cậu bạn cùng nằm với tôi ở viện 115 đã báo tin tôi bị thương. Cả gia đình vô cùng lo lắng. Bố tôi bố trí sắp xếp công việc xong, liền đi ngay vào thăm tôi. Ông cứ lang thang khắp mọi nơi tôi đã từng đi qua. Viện 115, viện QĐ4. Đồng dù, Trảng lớn... Đến đâu người ta cũng bảo tôi vừa ở đây nhưng đã đi rồi. Cứ thế, bước chân tìm con của Bố tôi cuối cùng dừng lại tại cứ ba lô của đại đội - Cứ Mộc Bài. Tôi và các anh trong cứ bố trí cho bố tôi một chỗ nằm trong ngôi chùa đổ nát. Ăn uống thì chẳng có gì chỉ có cơm, rau, tép và.... thịt chuột. Bố tôi sợ hãi ra mặt.
- Chà lính tráng ăn ở tạm bợ quá con ạ. Hồi ở Điện biên, khó khăn gian khổ thế nhưng cũng không đến nỗi như các con bây giờ. Bố tôi than phiền.
Đã thế, mấy ông thương binh đại đội lại còn kể với bố tôi chuyện rằng tháng trước mấy thằng trinh sát Miên bò vào giết chết cả chục thương binh ở trạm phẫu ngay bên kia đường, nào là chuyện ở đây, cách biên giói có chưa đầy trăm mét, Miên vẫn ì oàng tập kích suốt.... Sợ quá, hai hôm sau ông đòi tôi đưa về thành phố Hồ chí Minh ngay. Tôi đưa ngay ông về thành phố, vả lại tôi cũng không thích ông ở đây lâu làm gì. Ở nhà Mẹ tôi đang ốm yếu, rất cần có ông ở bên cạnh.
Tôi trở về cứ đại đội, lấy Ba lô của thằng Long bên cứ C14 gần đó mang ra bưu điện Gò dầu Hạ để gửi về cho gia đình nó những di vật cuối cùng. Tôi phải hoàn thành cái lời hứa của Tổ Tam tam trước lúc lên đường. Xong xuôi, tôi “ nhập tịch “ vào đại đội an dưỡng K24.
Tổ tam tam - Lê Thái Thọ (P9)
Bữa nhậu vừa kết thúc. Đại đội chúng tôi lại lên đường, Tôi lại trở về với B của anh Nhạn với khẩu RPD quen thuộc. Vài anh lính còn đang trong trạng thái lơ mơ. Đi trên bờ ruộng mà thỉnh thoảng lại loạng choạng bổ nhào xuống ruộng lõm bõm nước. Tiếng cưòi vẫn rộ lên.... Chúng tôi lại nhằm hướng nam, nơi có con lộ nhỏ không tên vừa đánh bữa trước. Trời tối, chúng tôi tập trung tại một căn nhà nhỏ ở phum Prey Ko ki. Sau khi chính trị viên tiểu đoàn phổ biến nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị.
Anh đứng trên một mô đất cao nói với chúng tôi :
- Đợt chiến đấu sắp tới sẽ diễn ra rất quyết liệt, tính bất ngờ có thể không còn nữa. Nhưng tôi xin hứa với các đồng chí, các đồng chí cứ yên tâm chiến đấu. Nếu đồng chí nào chẳng may hy sinh, chúng tôi dù rằng phải hy sinh thêm ba bốn đồng chí nữa để mang xác các đồng chí về, chúng tôi cũng quyết không để các liệt sỹ nằm lại trận địa.
Trong chiến đấu đối với người lính, cái sợ nhất có lẽ là bị đồng đội bỏ rơi mình nằm trong tay địch, dù còn sống hay đã chết. Nghe chính trị viên nói vậy, chúng tôi cũng yên lòng phần nào. Do kết quả của những bữa ăn xả láng vừa qua, bụng tôi lại có vấn đề. Thật chết vì cái mồm. Nguời mệt rã rời.
Đêm ấy, tôi ngồi gác để cho anh Nhạn và thằng Màu ( người Tam đảo Vĩnh phúc - lính mới tò te được bổ xung vào B tôi thay thằng Minh ) ngủ trước. Đang gác, người tôi bỗng lạnh run, hai hàm răng va vào nhau cầm cập, chân tay run lẩy bẩy. Bỏ mẹ, sốt rét rồi. Từ chỗ tôi ngồi gác vào đến hầm thùng, nơi Anh Nhạn đang nằm chỉ có khoảng chưa đến chục mét mà tôi bò mãi mới đến nơi. Tôi thì thào báo cáo với anh Nhạn. Anh Nhạn ra gác thay cho tôi và bảo tôi vào hầm nằm. Thằng Màu lấy hết màn, tăng, nilon đắp lên người tôi, lấy 2 viên Quinin cho tôi uống. Vẫn run lập cập. Thằng Màu liền đè cả người nó lên người tôi cho ấm. Ôi, cái tình đồng đội sao mà ấm áp thế, đáng quý thế. Màu ơi, bây giờ em ở đâu?
Sáng hôm sau, người tôi ê ẩm rã rời, các khớp xương như muốn long ra từng đoạn. Cơn sốt đã dứt nhưng tôi vô cùng mệt. Tôi liền báo cáo với anh Nhạn xin phép cho tôi được về cứ anh nuôi nghỉ ngơi ít ngày cho lại sức. Anh Nhạn trầm ngâm một lát rồi động viên tôi :
- Thọ ạ, nếu B mình còn nhiều người thì anh sẽ đồng ý cho em về cứ ngay. Nhưng em xem, cả B bây giờ còn có 3 anh em. Nếu em về nghỉ thì còn mỗi anh và thằng Màu ú a ú ớ, nó chưa đánh đấm bao giờ.... Thôi, em cố gắng một chút nhé. Em đưa khẩu RPD cho anh, còn em em cầm lấy khẩu M79 này cho nhẹ.
Lần đầu tiên tôi thấy anh nhẹ nhàng đến vậy, tịnh không thấy một tiếng đù má, đù cha trong câu nói của anh. Tôi lặng lẽ cầm lấy khẩu M79 và dây đạn anh đưa. Tôi còn biết nói gì nữa. Trung đội đã hao tổn qúa nhiều trong suốt những trận đánh vừa qua. Mỗi người còn lại phải cố ráng lên một chút vậy.
Chúng tôi không ngờ rằng, trận đánh chiếm Chi phu lần này lại nhàn đến vậy. Khi tiểu đoàn 3 lên đến nơi, các đơn vị bạn đã giải quyết xong. Chúng tôi thong thả hành quân hướng về cầu Tà yên. Người mệt mỏi rã rời sau trận sốt rét, tôi đi rất chậm và nghỉ liên tục. Mãi đến trưa, chúng tôi mới lên đến nơi. Do anh nuôi không thể đưa cơm lên kịp, chúng tôi dừng chân bên một căn nhà nhỏ cạnh cầu Tà yên để nấu cơm ăn trưa. Khoảng 2 g chiều, chúng tôi rẽ xuống con đường nhỏ bên tay trái hướng về phum Prey khlok. Chiều tà thê lương, vắng lặng không một tiếng súng. Không gian quánh đặc mùi tử khí. Chốc chốc, chúng tôi lại bắt gặp những xác người ( địch hay dân nhỉ? ), xác trâu bò hoặc vừa chết, hoặc chết đã lâu bốc mùi sặc sụa. Vòng vèo mãi đến lúc trời tối mịt, chúng tôi mới tới được Prey Ampil. Mệt rã rời, cả trung đội ( mà cũng chỉ còn có 3 mống ) chui vào một căn lều sát ngay bên đường. Chẳng kịp mắc võng, tôi lăn ra đất ngủ một mạch. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi mới nhận ra cả bọn nằm ngủ ngay trong chuồng bò, phân vẫn còn đầy trên mặt đất. Chúng tôi thay nhau đi đào hầm, xác định vị trí xạ kích... Buổi chiều, sang C14 tìm thằng Long xem nó có ổn không? Hơn nửa tháng, đánh liên miên cũng chẳng kịp để ý đến nhau nữa. Đang đi, bỗng thấy tiếng gọi Thọ ơi í ới. Hoá ra bọn thằng Chương bên C12 ( hay C13 nhỉ??? ) ở phố Ngõ Trạm. Chúng nó vừa bắn chết mấy con Trâu. Thấy tôi, chúng nó gọi vào để ăn thịt Trâu luộc chấm với muối ớt. Anh em xa lâu ngày nay gặp lại, tay bắt mặt mừng, vui quá thể.
- Sao chúng mày không xào thịt lên ăn có phải ngon hơn không? Tôi hỏi.
- Làm gì có mỡ, mắm muối. Thôi cứ luộc lên, mỗi thằng một tảng.
Thịt nhiều vô kể. Cả mấy con trâu, chúng nó chỉ xẻo lấy có mấy cái đùi sau và tim, gan. Còn thì vứt tất. Thật phí của giời.
Hôm sau, chúng tôi nghỉ ngơi và bổ xung thêm trang bị, tôi nhận khẩu B40, còn khẩu RPD giao lại cho thằng Màu. Tôi hướng dẫn cho Màu cách tháo lắp, cách sử dụng khẩu súng. Thằng Màu thủ thỉ kể cho tôi về gia đình, về bản thân nó. Đang ở nhà chăn trâu, nó phải đi bộ đội. Huấn luyện chỉ hơn một tháng đã phải lên đường vào đây. Nó chưa được bắn một phát súng nào. Nó bảo tôi :
- Anh ơi, lúc nào các anh “ chạy “, anh nhớ bảo em với nhé !
- Yên tâm đi, nhưng sao mà phải “ chạy “? Tôi lên giọng “ lính cựu “.
- Thì em nghe thấy mấy anh bảo, thỉnh thoảng mình vẫn bị Miên nó đánh cho chạy “ re kèn “ mà !
Tôi bảo nó mang súng ra ngoài hầm phía sau, lúc nào nghe thấy tiếng súng bọn Miên bắn thì cho nó bắn thoải mái. Lúc nào nghe tiếng súng mà nó hết thấy sợ thì thôi.
Đến khoảng nửa đêm hôm ấy, đại đội chúng tôi được trinh sát trung đoàn dẫn đi đánh phối thuộc với trung đoàn 2. Đêm tối như hũ nút, tôi cứ bì bõm bước thấp bước cao theo sát anh Nhạn đi phía trước. Cứ có lệnh nghỉ tại chỗ là tôi đặt ịch giá đạn xuống đất, không thèm tháo nó ra khỏi vai và tranh thủ nhắm mắt. Buồn ngủ quá trời. Chúng tôi đi theo một bờ đê của con sông chạy về thị xã Svayrieng. Đang vừa đi, vừa ngủ gà gật bỗng..Ùm. Tôi phi cả người xuống sông. Thằng Màu vội vàng kéo tôi lên. Xung quanh, chúng nó cứ bịt mồm cười khùng khục. Trinh sát trung đoàn không bắt được liên lạc với trung đoàn 2, chúng tôi lại quay về vị trí cũ. Đêm hôm sau cũng vẫn như vậy, chúng tôi cứ ra đi lúc nửa đêm và về lúc gần sáng. Sáng hôm sau, anh Nhạn càu nhàu tôi :
- Đi đột ban đêm mà giày của mày cứ lép nha lép nhép, lộ bố nó mất.
- Nhưng nước nó cứ tràn vào giày của em, đi nặng chình chịch. Tôi cãi.
- Đù má, mày ngu lắm. Lấy dao chặt ngay cái mũi giày đi “ con ạ “. Nước có vào, chỉ cần chống mũi
giày lên là ra hết.
Lại một bài học bổ ích cho tôi. Tôi và thằng Màu lập tức thực thi “ mệnh lệnh “.
Chiều ngày 06.07.1978, trời mưa tầm tã. Trung đoàn tôi được lệnh đánh lên chiếm khu nhà tôn nằm ở dải đất cao nhô lên phía trước phum Prey Ampil. Vừa lên được khoảng hơn trăm mét, bọn địch đã phát hiện thấy chúng tôi. DK, B40, B41 đạn nhọn của chúng bắn xối xả vào đội hình của ta. Không thể lên được. Sau hơn một tiếng nằm úp mũ lên, che mặt ngủ giữa trời mưa, chúng tôi được lệnh rút về vị trí cũ.
Chiều hôm sau, hội nghị quân chính đại đội được tổ chức. Anh Han “ đen “ người Thanh hoá – Lính 74, nguyên B trưởng cối 82 bên C14 được điều về thay anh Bình “ trắng “, vừa bị thương hôm trước làm đại đội trưởng. Anh Han người to cao và đen, nói năng mạnh mẽ, dứt khoát chứ không nhỏ nhẹ như anh Bình. Hội nghị trình bày phương án tác chiến của ngày mai. Ngày mai, chúng tôi sẽ vẫn đánh lên khu nhà tôn phía trước. Nhưng phương án có sự thay đổi. Bên tay phải chúng tôi, trung đoàn 2 đảm trách, khu vực giữa là trung đoàn 3, bên tay trái là trung đoàn Vàm cỏ. Trung đoàn tôi là dự bị của sư đoàn, tiểu đoàn 3 là dự bị của trung đoàn, còn C11 của tôi là dự bị của tiểu đoàn. Trợ chiến gồm có 4 chiếc M113 của lữ 22, pháo 155 của quân đoàn 300 quả, 2 khẩu 105mm, 2 khẩu 85 mm nòng dài, 2 khẩu 37 mm của sư đoàn hạ nòng bắn thẳng. Quá chuẩn !!! Thế thì chúng mày có mà nát như tương. Đại đội tôi lại là dự bị của dự bị của dự bị. Ba lần dự bị thì chỉ có mà ngồi chơi xơi nước. Tôi sung sướng thầm nghĩ.
5g30 sáng ngày 08.07.1978, tiếng pháo quân đoàn, sư đoàn đồng loạt nổ. Tôi ngồi thu lu cùng đồng đội trên luỹ đất mọc toàn cây le, nhìn thấy toàn cảnh của trận chiến. Còn hay hơn cả xem phim “ Giải phóng “ của Liên xô. Ùng.. ùng.. ùng Oàng.. oàng... oàng pháo ta nện dữ dội. Tiếng 105 ly âm âm nặng nề, tiếng 85mm thì thẳng căng đanh sắc, tiếng 37 ly dồn dập. Những chớp lửa nhằng nhằng giật bay mái tôn, khói bốc lên cuồn cuộn. Chà chà, quá sướng, quá hay, quá đã !!!. Phát này thì chúng mày phải nát như tương Bần. Pháo vừa chuyển làn, xe M113 lừ lừ tiến sau bộ binh của trung đoàn Vàm cỏ, hai trung đoàn 2 và 3 bộ đội cũng bắt đầu xung phong thoắt ẩn thoắt hiện sau những cây Thốt lốt. Nhưng sao thế kia. Một M113 bị DK của địch bắn cho tung xích. Bộ đội lao lên rồi ngã xuống. Ôi, sao “ bị “ nhiều thế kia, ngã nhiều quá. Các đơn vị vận tải lao lên khiêng, vác thương binh tử sĩ về tuyến sau. Đang mải chăm chú xem “ phim “, tôi bỗng nghe tiếng thông tin 2W đứng cạnh tôi :
- 919001, 919001...
Thôi bỏ mẹ rồi ! mã 919001 là ký hiệu của đại đội tôi. Chắc có khó khăn nên đơn vị dự bị phải vào trận rồi. Mà cái trò đánh đã không thắng thì dự bị phải lao vào chỗ đang khó khăn nhất. Dĩ nhiên !!! Tôi xốc giá đạn lên vai, tay sách thêm một quả B40. Anh Han dẫn chúng tôi lao ra hướng của trung đoàn 3. Tuyến tiến công vướng toàn sình lầy. Chúng tôi cứ phải lao men theo bờ ruộng. Thảo nào mà bộ đội bị thương vong nhiều như vậy. Bọn địch cứ nhằm bộ đội ta đang di chuyển rất chậm do vướng sình mà bắn. Lại ngã rồi, lại ngã rồi.... Tôi lao lên nhằm thẳng phía trước. Ùng..oành. Tôi nổ súng. Tai tôi ù đặc. Nhớ lời anh Nhạn dặn, tôi làm luôn phát nữa. Thông tai rồi.
Bắn B40, B41 khi vào trận là cứ phải làm liền hai phát để thông tai. Rút kinh nghiệm đã được chứng kiến, tôi không chạy theo bờ ruộng vì sợ bị địch bắn tỉa, ba chúng tôi lội ào xuống sình chạy tản ra. Phập.. phập.. phập.. chíu.. chíu.. chíu.. đạn đại liên của địch xiên vèo vèo trước mặt. Tôi lấy quả đạn thằng Màu đang cầm cắm ngay vào nòng, nhìn thấy ổ đại liên của địch đang nhả đạn, tôi bóp cò. Ùng ..oàng. Trượt mẹ nó rồi ! Tôi nằm chúi đầu xuống ven bờ ruộng. Phập.. phập.. phập.. chíu.. chíu.. chíu.. đạn đại liên của địch cày ngay trước mặt tôi. Chắc thằng này đã nhìn thấy tôi rồi. Không thể di chuyển đi đâu được vì xung quanh toàn sình lầy. Nằm đây chắc chết quá. Tôi thầm nghĩ vậy. Lại phập.. phập.. chíu.. chíu.. Cằm tôi bỗng giật lên. Thôi bỏ mẹ, dính rồi, máu chảy đỏ ngực áo.
- Anh Nhạn, em dính rồi.
Tôi vừa nhỏm dậy định rút thêm một quả đạn thì ... bụp ! Tôi thấy toàn thân tê dại. Một viên đại liên nữa của địch phá nát bàn tay phải của tôi. Tôi hét :
- Anh Nhạn, em lại bị viên nữa.
- Nằm im đấy, tao sẽ sang băng cho. Đù má, sao trận này dính nhiều thế này.
Anh Han C trưởng thấy tôi bị thương liền chồm sang, vớ ngay khẩu B40 của tôi lắp đạn và bóp cò...Ùng.... oàng. Tiếng đại liên địch im bặt. Quá đau, tôi thò tay còn lại rút con dao găm chiếm lợi phẩm mà tôi rất quý, cắt tất cả dây đeo giá đạn, bỏ luôn cả túi mìn Claymo trong đó có sổ sách, đồ dùng cá nhân...., cả con dao quý báu của tôi nữa. Vứt , vứt hết. Tôi nghe tiếng anh Nhạn hét ầm lên :
- Đù má thằng Han nhé, mày làm cháy hết người ông rồi.
Thì ra, trong khi đang loay hoay để bò sang chỗ tôi, anh Nhạn đã bò ngay sau khẩu B40 đúng lúc anh Han nổ súng tiếp. Cả quầng lửa chùm lên lưng anh Nhạn. Anh Han hét :
- Chửi con c..., mày và thằng Thọ băng bó xong cố chạy về tuyến sau đi. Nằm đây đợi vận tải thì có
mà toi cả nút.
Anh Nhạn lao đi, cái áo đã bay đi cả mảng để trần ra tấm lưng đỏ như tôm luộc, da lợt từng đám trông dễ sợ.
Tôi tê dại cả nửa người, nhưng nằm đây thì chết là cái chắc. Tôi cố gắng vùng dậy, cứ theo bờ ruộng chạy về. Bọn địch chắc nhìn thấy tôi liền bắn theo chiu chíu.Vừa nhìn thấy hầm cối 60 của đại đội, tôi phi cả người lao xuống. Bọn ở cối 60 giúp tôi băng lại vết thương ở cằm và ở tay. Một viên sượt qua xé rách cằm, một viên xuyên qua lòng bàn tay phải làm toác lòng bàn tay và cổ tay tôi. May rồi, nếu viên ở cằm mà dịch lên chút nữa thì có mà....đi buôn hoa quả sớm. Hoá ra, ở đời chết cũng không phải dễ.
Ngồi ở hầm cối của đại đội, tôi chứng kiến trận đánh tiếp tục. Bộ đội ta vẫn không thể nào tiến lên được. Đù má, phải mang bọn trinh sát ra mà chém đầu. Ai lại vạch hướng tấn công toàn vào bãi sình thế này, chết là phải. Tôi lầm bầm. Ở hầm bên cạnh, trung đoàn trưởng trung đoàn 1 - Trung tá Ba C.... - đứng theo dõi trận đánh cùng mấy vị chắc là sĩ quan tham mưu. Ông buồn bã :
- Sao dính nhiều thế này. Tao thương mấy thằng lính chết trẻ quá.........
Hai chiếc M113 còn lại đang dỉn dỉn bò về theo đường lộ. Một sĩ quan tham mưu bảo tôi :
- Thôi, thằng em ra lộ, bảo mấy thằng M113 nó cho về phẫu trung đoàn. Chắc đơn vị sắp rút rồi.
Thế là thua, thua đau đớn. Tôi cứ tưởng rằng trận đánh này sẽ vô cùng nhàn nhã. Binh hùng tướng mạnh thế kia mà. Ngờ đâu lại tan tác đến vậy. Tôi chán chường, đau đớn ( cả thể xác lẫn tinh thần ) loạng choạng ra lộ. Mấy lính trên xe kéo tôi lên chiếc M113 chạy thẳng về trạm phẫu trung đoàn tại Ang Tamok. Lúc đó là 11g ngày 08.07.1978.
Anh đứng trên một mô đất cao nói với chúng tôi :
- Đợt chiến đấu sắp tới sẽ diễn ra rất quyết liệt, tính bất ngờ có thể không còn nữa. Nhưng tôi xin hứa với các đồng chí, các đồng chí cứ yên tâm chiến đấu. Nếu đồng chí nào chẳng may hy sinh, chúng tôi dù rằng phải hy sinh thêm ba bốn đồng chí nữa để mang xác các đồng chí về, chúng tôi cũng quyết không để các liệt sỹ nằm lại trận địa.
Trong chiến đấu đối với người lính, cái sợ nhất có lẽ là bị đồng đội bỏ rơi mình nằm trong tay địch, dù còn sống hay đã chết. Nghe chính trị viên nói vậy, chúng tôi cũng yên lòng phần nào. Do kết quả của những bữa ăn xả láng vừa qua, bụng tôi lại có vấn đề. Thật chết vì cái mồm. Nguời mệt rã rời.
Đêm ấy, tôi ngồi gác để cho anh Nhạn và thằng Màu ( người Tam đảo Vĩnh phúc - lính mới tò te được bổ xung vào B tôi thay thằng Minh ) ngủ trước. Đang gác, người tôi bỗng lạnh run, hai hàm răng va vào nhau cầm cập, chân tay run lẩy bẩy. Bỏ mẹ, sốt rét rồi. Từ chỗ tôi ngồi gác vào đến hầm thùng, nơi Anh Nhạn đang nằm chỉ có khoảng chưa đến chục mét mà tôi bò mãi mới đến nơi. Tôi thì thào báo cáo với anh Nhạn. Anh Nhạn ra gác thay cho tôi và bảo tôi vào hầm nằm. Thằng Màu lấy hết màn, tăng, nilon đắp lên người tôi, lấy 2 viên Quinin cho tôi uống. Vẫn run lập cập. Thằng Màu liền đè cả người nó lên người tôi cho ấm. Ôi, cái tình đồng đội sao mà ấm áp thế, đáng quý thế. Màu ơi, bây giờ em ở đâu?
Sáng hôm sau, người tôi ê ẩm rã rời, các khớp xương như muốn long ra từng đoạn. Cơn sốt đã dứt nhưng tôi vô cùng mệt. Tôi liền báo cáo với anh Nhạn xin phép cho tôi được về cứ anh nuôi nghỉ ngơi ít ngày cho lại sức. Anh Nhạn trầm ngâm một lát rồi động viên tôi :
- Thọ ạ, nếu B mình còn nhiều người thì anh sẽ đồng ý cho em về cứ ngay. Nhưng em xem, cả B bây giờ còn có 3 anh em. Nếu em về nghỉ thì còn mỗi anh và thằng Màu ú a ú ớ, nó chưa đánh đấm bao giờ.... Thôi, em cố gắng một chút nhé. Em đưa khẩu RPD cho anh, còn em em cầm lấy khẩu M79 này cho nhẹ.
Lần đầu tiên tôi thấy anh nhẹ nhàng đến vậy, tịnh không thấy một tiếng đù má, đù cha trong câu nói của anh. Tôi lặng lẽ cầm lấy khẩu M79 và dây đạn anh đưa. Tôi còn biết nói gì nữa. Trung đội đã hao tổn qúa nhiều trong suốt những trận đánh vừa qua. Mỗi người còn lại phải cố ráng lên một chút vậy.
Chúng tôi không ngờ rằng, trận đánh chiếm Chi phu lần này lại nhàn đến vậy. Khi tiểu đoàn 3 lên đến nơi, các đơn vị bạn đã giải quyết xong. Chúng tôi thong thả hành quân hướng về cầu Tà yên. Người mệt mỏi rã rời sau trận sốt rét, tôi đi rất chậm và nghỉ liên tục. Mãi đến trưa, chúng tôi mới lên đến nơi. Do anh nuôi không thể đưa cơm lên kịp, chúng tôi dừng chân bên một căn nhà nhỏ cạnh cầu Tà yên để nấu cơm ăn trưa. Khoảng 2 g chiều, chúng tôi rẽ xuống con đường nhỏ bên tay trái hướng về phum Prey khlok. Chiều tà thê lương, vắng lặng không một tiếng súng. Không gian quánh đặc mùi tử khí. Chốc chốc, chúng tôi lại bắt gặp những xác người ( địch hay dân nhỉ? ), xác trâu bò hoặc vừa chết, hoặc chết đã lâu bốc mùi sặc sụa. Vòng vèo mãi đến lúc trời tối mịt, chúng tôi mới tới được Prey Ampil. Mệt rã rời, cả trung đội ( mà cũng chỉ còn có 3 mống ) chui vào một căn lều sát ngay bên đường. Chẳng kịp mắc võng, tôi lăn ra đất ngủ một mạch. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi mới nhận ra cả bọn nằm ngủ ngay trong chuồng bò, phân vẫn còn đầy trên mặt đất. Chúng tôi thay nhau đi đào hầm, xác định vị trí xạ kích... Buổi chiều, sang C14 tìm thằng Long xem nó có ổn không? Hơn nửa tháng, đánh liên miên cũng chẳng kịp để ý đến nhau nữa. Đang đi, bỗng thấy tiếng gọi Thọ ơi í ới. Hoá ra bọn thằng Chương bên C12 ( hay C13 nhỉ??? ) ở phố Ngõ Trạm. Chúng nó vừa bắn chết mấy con Trâu. Thấy tôi, chúng nó gọi vào để ăn thịt Trâu luộc chấm với muối ớt. Anh em xa lâu ngày nay gặp lại, tay bắt mặt mừng, vui quá thể.
- Sao chúng mày không xào thịt lên ăn có phải ngon hơn không? Tôi hỏi.
- Làm gì có mỡ, mắm muối. Thôi cứ luộc lên, mỗi thằng một tảng.
Thịt nhiều vô kể. Cả mấy con trâu, chúng nó chỉ xẻo lấy có mấy cái đùi sau và tim, gan. Còn thì vứt tất. Thật phí của giời.
Hôm sau, chúng tôi nghỉ ngơi và bổ xung thêm trang bị, tôi nhận khẩu B40, còn khẩu RPD giao lại cho thằng Màu. Tôi hướng dẫn cho Màu cách tháo lắp, cách sử dụng khẩu súng. Thằng Màu thủ thỉ kể cho tôi về gia đình, về bản thân nó. Đang ở nhà chăn trâu, nó phải đi bộ đội. Huấn luyện chỉ hơn một tháng đã phải lên đường vào đây. Nó chưa được bắn một phát súng nào. Nó bảo tôi :
- Anh ơi, lúc nào các anh “ chạy “, anh nhớ bảo em với nhé !
- Yên tâm đi, nhưng sao mà phải “ chạy “? Tôi lên giọng “ lính cựu “.
- Thì em nghe thấy mấy anh bảo, thỉnh thoảng mình vẫn bị Miên nó đánh cho chạy “ re kèn “ mà !
Tôi bảo nó mang súng ra ngoài hầm phía sau, lúc nào nghe thấy tiếng súng bọn Miên bắn thì cho nó bắn thoải mái. Lúc nào nghe tiếng súng mà nó hết thấy sợ thì thôi.
Đến khoảng nửa đêm hôm ấy, đại đội chúng tôi được trinh sát trung đoàn dẫn đi đánh phối thuộc với trung đoàn 2. Đêm tối như hũ nút, tôi cứ bì bõm bước thấp bước cao theo sát anh Nhạn đi phía trước. Cứ có lệnh nghỉ tại chỗ là tôi đặt ịch giá đạn xuống đất, không thèm tháo nó ra khỏi vai và tranh thủ nhắm mắt. Buồn ngủ quá trời. Chúng tôi đi theo một bờ đê của con sông chạy về thị xã Svayrieng. Đang vừa đi, vừa ngủ gà gật bỗng..Ùm. Tôi phi cả người xuống sông. Thằng Màu vội vàng kéo tôi lên. Xung quanh, chúng nó cứ bịt mồm cười khùng khục. Trinh sát trung đoàn không bắt được liên lạc với trung đoàn 2, chúng tôi lại quay về vị trí cũ. Đêm hôm sau cũng vẫn như vậy, chúng tôi cứ ra đi lúc nửa đêm và về lúc gần sáng. Sáng hôm sau, anh Nhạn càu nhàu tôi :
- Đi đột ban đêm mà giày của mày cứ lép nha lép nhép, lộ bố nó mất.
- Nhưng nước nó cứ tràn vào giày của em, đi nặng chình chịch. Tôi cãi.
- Đù má, mày ngu lắm. Lấy dao chặt ngay cái mũi giày đi “ con ạ “. Nước có vào, chỉ cần chống mũi
giày lên là ra hết.
Lại một bài học bổ ích cho tôi. Tôi và thằng Màu lập tức thực thi “ mệnh lệnh “.
Chiều ngày 06.07.1978, trời mưa tầm tã. Trung đoàn tôi được lệnh đánh lên chiếm khu nhà tôn nằm ở dải đất cao nhô lên phía trước phum Prey Ampil. Vừa lên được khoảng hơn trăm mét, bọn địch đã phát hiện thấy chúng tôi. DK, B40, B41 đạn nhọn của chúng bắn xối xả vào đội hình của ta. Không thể lên được. Sau hơn một tiếng nằm úp mũ lên, che mặt ngủ giữa trời mưa, chúng tôi được lệnh rút về vị trí cũ.
Chiều hôm sau, hội nghị quân chính đại đội được tổ chức. Anh Han “ đen “ người Thanh hoá – Lính 74, nguyên B trưởng cối 82 bên C14 được điều về thay anh Bình “ trắng “, vừa bị thương hôm trước làm đại đội trưởng. Anh Han người to cao và đen, nói năng mạnh mẽ, dứt khoát chứ không nhỏ nhẹ như anh Bình. Hội nghị trình bày phương án tác chiến của ngày mai. Ngày mai, chúng tôi sẽ vẫn đánh lên khu nhà tôn phía trước. Nhưng phương án có sự thay đổi. Bên tay phải chúng tôi, trung đoàn 2 đảm trách, khu vực giữa là trung đoàn 3, bên tay trái là trung đoàn Vàm cỏ. Trung đoàn tôi là dự bị của sư đoàn, tiểu đoàn 3 là dự bị của trung đoàn, còn C11 của tôi là dự bị của tiểu đoàn. Trợ chiến gồm có 4 chiếc M113 của lữ 22, pháo 155 của quân đoàn 300 quả, 2 khẩu 105mm, 2 khẩu 85 mm nòng dài, 2 khẩu 37 mm của sư đoàn hạ nòng bắn thẳng. Quá chuẩn !!! Thế thì chúng mày có mà nát như tương. Đại đội tôi lại là dự bị của dự bị của dự bị. Ba lần dự bị thì chỉ có mà ngồi chơi xơi nước. Tôi sung sướng thầm nghĩ.
5g30 sáng ngày 08.07.1978, tiếng pháo quân đoàn, sư đoàn đồng loạt nổ. Tôi ngồi thu lu cùng đồng đội trên luỹ đất mọc toàn cây le, nhìn thấy toàn cảnh của trận chiến. Còn hay hơn cả xem phim “ Giải phóng “ của Liên xô. Ùng.. ùng.. ùng Oàng.. oàng... oàng pháo ta nện dữ dội. Tiếng 105 ly âm âm nặng nề, tiếng 85mm thì thẳng căng đanh sắc, tiếng 37 ly dồn dập. Những chớp lửa nhằng nhằng giật bay mái tôn, khói bốc lên cuồn cuộn. Chà chà, quá sướng, quá hay, quá đã !!!. Phát này thì chúng mày phải nát như tương Bần. Pháo vừa chuyển làn, xe M113 lừ lừ tiến sau bộ binh của trung đoàn Vàm cỏ, hai trung đoàn 2 và 3 bộ đội cũng bắt đầu xung phong thoắt ẩn thoắt hiện sau những cây Thốt lốt. Nhưng sao thế kia. Một M113 bị DK của địch bắn cho tung xích. Bộ đội lao lên rồi ngã xuống. Ôi, sao “ bị “ nhiều thế kia, ngã nhiều quá. Các đơn vị vận tải lao lên khiêng, vác thương binh tử sĩ về tuyến sau. Đang mải chăm chú xem “ phim “, tôi bỗng nghe tiếng thông tin 2W đứng cạnh tôi :
- 919001, 919001...
Thôi bỏ mẹ rồi ! mã 919001 là ký hiệu của đại đội tôi. Chắc có khó khăn nên đơn vị dự bị phải vào trận rồi. Mà cái trò đánh đã không thắng thì dự bị phải lao vào chỗ đang khó khăn nhất. Dĩ nhiên !!! Tôi xốc giá đạn lên vai, tay sách thêm một quả B40. Anh Han dẫn chúng tôi lao ra hướng của trung đoàn 3. Tuyến tiến công vướng toàn sình lầy. Chúng tôi cứ phải lao men theo bờ ruộng. Thảo nào mà bộ đội bị thương vong nhiều như vậy. Bọn địch cứ nhằm bộ đội ta đang di chuyển rất chậm do vướng sình mà bắn. Lại ngã rồi, lại ngã rồi.... Tôi lao lên nhằm thẳng phía trước. Ùng..oành. Tôi nổ súng. Tai tôi ù đặc. Nhớ lời anh Nhạn dặn, tôi làm luôn phát nữa. Thông tai rồi.
Bắn B40, B41 khi vào trận là cứ phải làm liền hai phát để thông tai. Rút kinh nghiệm đã được chứng kiến, tôi không chạy theo bờ ruộng vì sợ bị địch bắn tỉa, ba chúng tôi lội ào xuống sình chạy tản ra. Phập.. phập.. phập.. chíu.. chíu.. chíu.. đạn đại liên của địch xiên vèo vèo trước mặt. Tôi lấy quả đạn thằng Màu đang cầm cắm ngay vào nòng, nhìn thấy ổ đại liên của địch đang nhả đạn, tôi bóp cò. Ùng ..oàng. Trượt mẹ nó rồi ! Tôi nằm chúi đầu xuống ven bờ ruộng. Phập.. phập.. phập.. chíu.. chíu.. chíu.. đạn đại liên của địch cày ngay trước mặt tôi. Chắc thằng này đã nhìn thấy tôi rồi. Không thể di chuyển đi đâu được vì xung quanh toàn sình lầy. Nằm đây chắc chết quá. Tôi thầm nghĩ vậy. Lại phập.. phập.. chíu.. chíu.. Cằm tôi bỗng giật lên. Thôi bỏ mẹ, dính rồi, máu chảy đỏ ngực áo.
- Anh Nhạn, em dính rồi.
Tôi vừa nhỏm dậy định rút thêm một quả đạn thì ... bụp ! Tôi thấy toàn thân tê dại. Một viên đại liên nữa của địch phá nát bàn tay phải của tôi. Tôi hét :
- Anh Nhạn, em lại bị viên nữa.
- Nằm im đấy, tao sẽ sang băng cho. Đù má, sao trận này dính nhiều thế này.
Anh Han C trưởng thấy tôi bị thương liền chồm sang, vớ ngay khẩu B40 của tôi lắp đạn và bóp cò...Ùng.... oàng. Tiếng đại liên địch im bặt. Quá đau, tôi thò tay còn lại rút con dao găm chiếm lợi phẩm mà tôi rất quý, cắt tất cả dây đeo giá đạn, bỏ luôn cả túi mìn Claymo trong đó có sổ sách, đồ dùng cá nhân...., cả con dao quý báu của tôi nữa. Vứt , vứt hết. Tôi nghe tiếng anh Nhạn hét ầm lên :
- Đù má thằng Han nhé, mày làm cháy hết người ông rồi.
Thì ra, trong khi đang loay hoay để bò sang chỗ tôi, anh Nhạn đã bò ngay sau khẩu B40 đúng lúc anh Han nổ súng tiếp. Cả quầng lửa chùm lên lưng anh Nhạn. Anh Han hét :
- Chửi con c..., mày và thằng Thọ băng bó xong cố chạy về tuyến sau đi. Nằm đây đợi vận tải thì có
mà toi cả nút.
Anh Nhạn lao đi, cái áo đã bay đi cả mảng để trần ra tấm lưng đỏ như tôm luộc, da lợt từng đám trông dễ sợ.
Tôi tê dại cả nửa người, nhưng nằm đây thì chết là cái chắc. Tôi cố gắng vùng dậy, cứ theo bờ ruộng chạy về. Bọn địch chắc nhìn thấy tôi liền bắn theo chiu chíu.Vừa nhìn thấy hầm cối 60 của đại đội, tôi phi cả người lao xuống. Bọn ở cối 60 giúp tôi băng lại vết thương ở cằm và ở tay. Một viên sượt qua xé rách cằm, một viên xuyên qua lòng bàn tay phải làm toác lòng bàn tay và cổ tay tôi. May rồi, nếu viên ở cằm mà dịch lên chút nữa thì có mà....đi buôn hoa quả sớm. Hoá ra, ở đời chết cũng không phải dễ.
Ngồi ở hầm cối của đại đội, tôi chứng kiến trận đánh tiếp tục. Bộ đội ta vẫn không thể nào tiến lên được. Đù má, phải mang bọn trinh sát ra mà chém đầu. Ai lại vạch hướng tấn công toàn vào bãi sình thế này, chết là phải. Tôi lầm bầm. Ở hầm bên cạnh, trung đoàn trưởng trung đoàn 1 - Trung tá Ba C.... - đứng theo dõi trận đánh cùng mấy vị chắc là sĩ quan tham mưu. Ông buồn bã :
- Sao dính nhiều thế này. Tao thương mấy thằng lính chết trẻ quá.........
Hai chiếc M113 còn lại đang dỉn dỉn bò về theo đường lộ. Một sĩ quan tham mưu bảo tôi :
- Thôi, thằng em ra lộ, bảo mấy thằng M113 nó cho về phẫu trung đoàn. Chắc đơn vị sắp rút rồi.
Thế là thua, thua đau đớn. Tôi cứ tưởng rằng trận đánh này sẽ vô cùng nhàn nhã. Binh hùng tướng mạnh thế kia mà. Ngờ đâu lại tan tác đến vậy. Tôi chán chường, đau đớn ( cả thể xác lẫn tinh thần ) loạng choạng ra lộ. Mấy lính trên xe kéo tôi lên chiếc M113 chạy thẳng về trạm phẫu trung đoàn tại Ang Tamok. Lúc đó là 11g ngày 08.07.1978.
Tổ tam tam - Lê Thái Thọ (P8)
Mấy hôm nay, chiều nào trời cũng mưa rất to. Những hạt mưa quất thẳng vào tôi ràn rạt. Hạt mưa rơi xuống nòng súng bốc hơi xèo xèo, nghi ngút. Tôi đang thẳng tay quất những loạt đạn thẳng căng vào bọn khốn khiếp. Bỗng xoạch.. tiếng súng tắt đột ngột. Khẩu RPD của tôi câm như hến. Hết đạn rồi à? Không phải, dây tiếp đạn vẫn còn thòng ra những viên đạn vàng choé. Tôi kéo quy lát lên đạn. Quy lát bó chặt cứng không nhúc nhít. Bọn địch thấy tiếng trung liên im bặt liền hò hét xông lên. Chết mẹ rồi Thọ ơi. Giữa lúc như thế này mà lại dở chứng tắc súng thì “ thôi rồi Lượm ơi “. Tôi hét lên :
- Anh Nhạn, súng em bị tắc rồi.
Anh Nhạn hô khẩu đội đại liên 3 càng Kô li cốp bắn yểm trợ rồi nhào sang hầm tôi. Tôi mở ốp khoá nòng, tháo băng đạn ra. Viên đạn kẹt cứng trong ổ chứa. Hai anh em mắm môi, mắm lợi kéo khoá nòng. Vẫn không được.
- Mày mang súng chạy về quan sát sở đại đội, bảo bọn nó sửa cho. Đù má, mưa gió thế này, mấy hôm đ... chịu lau súng nên cho mày chết.
Tôi chui ra khỏi hầm, chạy băng về hầm đại đội trong tiếng đạn rít vèo vèo bên tai. Anh Bình “ trắng “ ( để phân biệt với một anh cũng tên là Bình – B trưởng B3 người Đông Anh – Hà nội ) B trưởng B1, vừa lên quyền đại đội trưởng C11 thay đại đội trưởng kiêm chính trị viên bị thương trong trận chiếm Chi phu hôm 19.06 thấy tôi liền hỏi :
- Sao vậy thằng em? Tôi phân trần trong hơi thở gấp :
- Em đang bắn, súng bỗng nhiên bị tắc.
- Tại thằng em quá lười, không chịu lau chùi bảo quản phải không? Anh ôn tồn nói. Tôi gật đầu.
Đánh nhau liên miên, tôi thấy súng còn mới toanh, cứ bóp cò là nổ, cần gì phải lau với cả chùi. Ai ngờ nó lại tắc tị giữa lúc như thế này. Một bài học thấm thía. Trong lúc ngồi chờ cho quân khí khắc phục khẩu súng. Anh Bình, anh Truyền y tá pha “ bồi dưỡng “ cho tôi một cốc bột sữa trứng, tiêu chuẩn của cán bộ đại đội. Đúng là “ đường sữa phát từ trên phát xuống, cuốc xẻng phát từ dưới phát lên “. Lính tráng phía dưới chúng tôi nào có biết bột trứng, bột sữa nó mặn ngọt như thế nào đâu. Anh Truyền vỗ vai tôi với giọng rất “ chính trị viên :
- Ở dưới này, nghe RPD của em nổ, bọn anh yên tâm lắm. Rất đĩnh đạc.
Của đáng tội, tôi nghe cũng “ phổng cả mũi “. Tất cả những cốc sữa trứng, ngụm trà, điếu thuốc và những lời động viên có cánh ( mấy hôm ở chốt, tôi bắt đầu tập tọng hút thuốc ) nhằm mục đích động viên tôi, tôi biết vậy.
Lại nói một chút về anh Truyền y tá. Anh Truyền chỉ là y tá đại đội nhưng rất có uy tín trong các lớp cán bộ của C11. Khi bố trí đội hình tấn công hay phòng ngự, ý kiến tham gia của anh rất có trọng lượng, thậm chí có khi là quyết định bởi bề dày tham gia chiến đấu của anh. Đại trưởng, đại phó, chính trị viên thi nhau hy sinh, bị thương còn anh vẫn cứ vẫn yên vị. Chính nhờ “ sống lâu “ như thế nên anh đã trở thành “ lão làng “ trong việc chỉ đạo tác chiến của đơn vị tôi. Anh tỏ ra bao dung với tôi khi lần gặp nhau đầu tiên, tôi đã “ anh anh, tôi tôi “ với anh khi biết anh là y tá. Đến bây giờ tôi mới hiểu anh.
Súng đã sửa xong, tôi vác súng lao cắm cổ về vị trí chiến đấu quen thuộc. Tiếng súng lại nổ giòn đĩnh đạc. Trong lúc tôi chạy về sửa vũ khí, một quả DK82 đã “ hốt “ gọn tổ đại liên của đại đội. Ba thằng, hai chết tại chỗ một bị thương rất nặng. Thằng Ước “ lác “ - dân Nghệ an cùng đoàn với tôi đang nằm thở khò khè, nặng nhọc, mắt vẫn “ lác lộn " toàn lòng trắng. Anh Nhạn lật người nó lên xem rồi phán :
- Đù má, nó sắp chết rồi.
Thằng Ước bỗng cố ngẩng đầu lên :
- E..e.m....em..chư...chư..a ..ch..ết..đ...âu.C..á..c..anh..c..ứ..u..em với.
Đang lo lắng, thương cảm, tôi vẫn phải phì cười. Cái thằng này sao mà nó lác đến vậy. Hai lòng đen mắt nó cứ chập ríu vào với nhau. Vậy mà lại được điều vào tổ đại liên. Chẳng biết bắn chác ra sao? “
Một thằng bảo an nhìn hoá ra ba thằng bình định “. Chúng tôi vẫn trêu đùa nó như vậy. Vậy mà bây giờ.......
Liên lạc đại đội báo cho tôi biết, tôi phải về quan sát sở đại đội ngay. Về đến nơi, anh Bình, anh Truyền pha nước mời tôi và nói :
- Chắc em đã biết, tổ đại liên vừa bị xoá. Bọn anh đã cân nhắc kỹ, trong đại đội không ai có thể sử dụng khẩu đại liên này hơn em cả. Nghe tiếng điểm xạ của em, bọn anh tin rằng khẩu đại liên sẽ phát huy tốt tác dụng nếu rơi vào tay em.
Bốc phét, lại chiến thuật “ động viên “ vớ vẩn. Nhưng tôi biết, đằng sau những lời ngọt ngào ấy là mệnh lệnh chiến đấu. Tôi không nhận mà được với các ông ấy à? Đồng thời, anh Bình cũng thông báo tôi được nâng quân hàm, từ binh nhì lên binh nhất. Trinh sát tiểu đoàn thông báo có ít nhất hơn 40 tên ngục ngã trước mũi súng của đại đội tôi. Tôi trở về bàn giao lại khẩu RPD để sang nắm tổ đại liên. Binh nhất Lê thái Thọ. Có tôi ! Và ..kình..kình...kình.. tiếng đại liên của tôi lại vang lên ròn rã, góp phần đánh bật mũi tấn công của mấy thằng Pốt chó đểu.
Rạng sáng ngày 25 .06 ( ngày sinh nhật lần thứ 19 của tôi ).Tiểu đoàn 3 của chúng tôi được lệnh rút về phía sau để nghỉ ngơi và củng cố. Trận địa phòng ngự Chi Phu được giao lại cho D1 đảm trách. Bàn giao trận địa xong, chúng tôi rút theo lộ 1 về tuyến sau, Gọi là tuyến sau nhưng thực chất cũng chỉ cách tiền duyên chừng hơn 1 cây số. Thôi thế cũng “ ấm “ chán. Nơi chúng tôi nghỉ ngơi chính là “ cứ “ anh nuôi của đại đội, một ngôi nhà sàn nằm nép mình bên phải lộ 1. Ngay trên mặt lộ bên cạnh cứ, hai khẩu 105 mm và hai khẩu cối 106,7 mm của quân đoàn hay sư đoàn suốt ngày đêm ầm ầm nhả đạn. Chúng tôi tranh thủ tắm giặt, ngủ nghê sau một tuần chiến đấu căng thẳng. Cả đại đội “ nồng nỗng “ ào ra thửa ruộng phía sau cứ. Nước ruộng trong văn vắt. Nào chạy nhảy, cười đùa té nước ầm ĩ cả một góc đồng. Nào cho tao xin tí xà phòng... Mày quê ở Phú thọ à? Thôi, kỳ cho tao cái lưng. Chiếc dép cao su chở thành vật dùng để kỳ cọ rất hiệu quả, ghét cứ bay đi hàng mảng ( vì cả tuần có tắm giặt gì đâu ), chỉ còn lại những tấm lưng, phản ngực đỏ au, sạch sẽ, mỡ màng. Quần áo phơi đầy trên những bụi cây lúp xúp. Chúng tôi nhanh chóng tạm quên ngay những ngày máu lửa, bi thương vừa trải. “ Mưa lúc nào, mát mặt lúc đó “ – Lính mà em. Lại có thư, thằng nào ít cũng phải có dăm ba lá. Tòng teng nằm trên cánh võng ( lúc này, lũ lính mới chúng tôi vừa được nhận quân trang bổ xung ), quần đùi áo may ô thoải mái, thằng thì đọc thư, thằng viết thư, thằng nghêu ngao hát hò vui vẻ. Nằm chán, tôi lại đi lên mặt lộ xem mấy khẩu pháo của ta bắn. Hay thật, tôi nhìn rất rõ quả đạn 105 mm bay ra khỏi nòng. Cõ lẽ gia tốc lúc ban đầu còn nhỏ nên đạn bay rất chậm, nhìn rõ mồn một.
Dưới bếp, mấy anh nuôi đang hồ hôi, mồ kê nhễ nhại trổ tài nấu nướng bồi dưỡng cho mấy thằng thoát chết trở về. Bữa ăn có gì nhỉ? Dưa leo, rau sống, bánh tráng, thịt heo luộc, thịt rang mặn, cơm canh đủ cả, thuốc rê thì hàng táp. Tất nhiên là không thể thiếu được can rượu trong vắt như mắt mèo. Bao nhiêu phụ cấp toàn đơn vị đều do anh nuôi giữ hộ cả. Ngoài tiền mua thuốc rê, vở viết Cogido ( dùng để cuốn thuốc là chủ yếu ) và mấy thứ lặt vặt để gửi lên trên chốt, còn lại đổ tất vào những cuộc nhậu này cả. Gạo tiền của thằng đã chết, của thằng đã bị thương đi viện. Mặc kệ, đã có nhà nước lo. Bây giờ phải lo cho những thằng còn lại, cho nó xả láng mấy hôm. Nay sống, mai ngẻo biết thế nào được.
Trong bữa nhậu, anh Bình – quyền C trưởng nói thủng thẳng :
- Tao nói trước, bọn D1 nó chẳng giữ được lâu đâu. Chúng mày cứ chuẩn bị tinh thần sẵn sàng, nó mà bục chốt là tụi mình phải lên lấy lại đó.
Mỗi một đơn vị đều có những cái “ dớp “ mà khó có thể giải thích rõ ràng rành mạch bằng lời được. Tiểu đoàn 1 của trung đoàn tôi chốt chặn rất kém. Cũng những con người ấy, vũ khí trang bị ấy, thế mà cứ động chốt là lại bị “ bung “. Mà chốt đã bị “ bung “ đơn vị nào phải đánh chiếm lại rất khổ. Máu phải đổ ra nhiều hơn so với đánh chiếm lần đầu. Cả bàn nhậu lặng đi một lúc. Anh Truyền y tá ôn tồn :
- Mày nói làm gì cho anh em nó mất vui. Lúc nào trên bảo đánh thì ta đánh. Việc của chúng ta là đánh. Lo trước làm gì cho mệt xác.
Chỉ ngày hôm sau, sau bữa nhậu buổi chiều chúng tôi được lệnh lên đường. Có lẽ nào lời nói của Anh Bình “ trắng “ đã thành sự thật. Nhưng thật ra không hẳn như vậy. Buổi trưa hôm ấy, một xe Zep chở tốp cán bộ tham mưu quân đoàn đi qua nơi nghỉ ngơi của chúng tôi lao lên chốt Chi phu. Người lái xe cứ rõi theo đường dây thông tin hữu tuyến rải ven đường mà đi. Mải nói chuyện, anh lái xe và mọi người không để ý đến đường dây hữu tuyến đã hết từ lúc nào. Bỗng phía trước mặt xuất hiện một thằng lính Pốt cầm khẩu B40 lao ra chặn đường. Bỏ mẹ rồi, thì ra xe đã vượt qua tuyến tiền duyên lúc nào không biết. Chiếc xe quay đầu định tháo lui. Không kịp nữa rồi. Ùng...oàng... hai tiếng nổ gần như chập vào một. Toàn bộ tốp cán bộ tham mưu quân đoàn chẳng thoát một ai. Lo rằng, trong tốp cán bộ có ai đó bị thương và bị địch bắt sống, kế hoạch dự định tấn công đánh chiếm nốt Chi Phu và phát triển lên chiếm cầu Tà yên sẽ bị lộ. Cấp trên ra lệnh cho Trung đoàn 1 cùng với các đơn vị bạn lập tức lên đường đánh chiếm các mục tiêu như kế hoạch đã dự tính. Chỉ có thời gian là thay đổi. Ngày N - ...
- Anh Nhạn, súng em bị tắc rồi.
Anh Nhạn hô khẩu đội đại liên 3 càng Kô li cốp bắn yểm trợ rồi nhào sang hầm tôi. Tôi mở ốp khoá nòng, tháo băng đạn ra. Viên đạn kẹt cứng trong ổ chứa. Hai anh em mắm môi, mắm lợi kéo khoá nòng. Vẫn không được.
- Mày mang súng chạy về quan sát sở đại đội, bảo bọn nó sửa cho. Đù má, mưa gió thế này, mấy hôm đ... chịu lau súng nên cho mày chết.
Tôi chui ra khỏi hầm, chạy băng về hầm đại đội trong tiếng đạn rít vèo vèo bên tai. Anh Bình “ trắng “ ( để phân biệt với một anh cũng tên là Bình – B trưởng B3 người Đông Anh – Hà nội ) B trưởng B1, vừa lên quyền đại đội trưởng C11 thay đại đội trưởng kiêm chính trị viên bị thương trong trận chiếm Chi phu hôm 19.06 thấy tôi liền hỏi :
- Sao vậy thằng em? Tôi phân trần trong hơi thở gấp :
- Em đang bắn, súng bỗng nhiên bị tắc.
- Tại thằng em quá lười, không chịu lau chùi bảo quản phải không? Anh ôn tồn nói. Tôi gật đầu.
Đánh nhau liên miên, tôi thấy súng còn mới toanh, cứ bóp cò là nổ, cần gì phải lau với cả chùi. Ai ngờ nó lại tắc tị giữa lúc như thế này. Một bài học thấm thía. Trong lúc ngồi chờ cho quân khí khắc phục khẩu súng. Anh Bình, anh Truyền y tá pha “ bồi dưỡng “ cho tôi một cốc bột sữa trứng, tiêu chuẩn của cán bộ đại đội. Đúng là “ đường sữa phát từ trên phát xuống, cuốc xẻng phát từ dưới phát lên “. Lính tráng phía dưới chúng tôi nào có biết bột trứng, bột sữa nó mặn ngọt như thế nào đâu. Anh Truyền vỗ vai tôi với giọng rất “ chính trị viên :
- Ở dưới này, nghe RPD của em nổ, bọn anh yên tâm lắm. Rất đĩnh đạc.
Của đáng tội, tôi nghe cũng “ phổng cả mũi “. Tất cả những cốc sữa trứng, ngụm trà, điếu thuốc và những lời động viên có cánh ( mấy hôm ở chốt, tôi bắt đầu tập tọng hút thuốc ) nhằm mục đích động viên tôi, tôi biết vậy.
Lại nói một chút về anh Truyền y tá. Anh Truyền chỉ là y tá đại đội nhưng rất có uy tín trong các lớp cán bộ của C11. Khi bố trí đội hình tấn công hay phòng ngự, ý kiến tham gia của anh rất có trọng lượng, thậm chí có khi là quyết định bởi bề dày tham gia chiến đấu của anh. Đại trưởng, đại phó, chính trị viên thi nhau hy sinh, bị thương còn anh vẫn cứ vẫn yên vị. Chính nhờ “ sống lâu “ như thế nên anh đã trở thành “ lão làng “ trong việc chỉ đạo tác chiến của đơn vị tôi. Anh tỏ ra bao dung với tôi khi lần gặp nhau đầu tiên, tôi đã “ anh anh, tôi tôi “ với anh khi biết anh là y tá. Đến bây giờ tôi mới hiểu anh.
Súng đã sửa xong, tôi vác súng lao cắm cổ về vị trí chiến đấu quen thuộc. Tiếng súng lại nổ giòn đĩnh đạc. Trong lúc tôi chạy về sửa vũ khí, một quả DK82 đã “ hốt “ gọn tổ đại liên của đại đội. Ba thằng, hai chết tại chỗ một bị thương rất nặng. Thằng Ước “ lác “ - dân Nghệ an cùng đoàn với tôi đang nằm thở khò khè, nặng nhọc, mắt vẫn “ lác lộn " toàn lòng trắng. Anh Nhạn lật người nó lên xem rồi phán :
- Đù má, nó sắp chết rồi.
Thằng Ước bỗng cố ngẩng đầu lên :
- E..e.m....em..chư...chư..a ..ch..ết..đ...âu.C..á..c..anh..c..ứ..u..em với.
Đang lo lắng, thương cảm, tôi vẫn phải phì cười. Cái thằng này sao mà nó lác đến vậy. Hai lòng đen mắt nó cứ chập ríu vào với nhau. Vậy mà lại được điều vào tổ đại liên. Chẳng biết bắn chác ra sao? “
Một thằng bảo an nhìn hoá ra ba thằng bình định “. Chúng tôi vẫn trêu đùa nó như vậy. Vậy mà bây giờ.......
Liên lạc đại đội báo cho tôi biết, tôi phải về quan sát sở đại đội ngay. Về đến nơi, anh Bình, anh Truyền pha nước mời tôi và nói :
- Chắc em đã biết, tổ đại liên vừa bị xoá. Bọn anh đã cân nhắc kỹ, trong đại đội không ai có thể sử dụng khẩu đại liên này hơn em cả. Nghe tiếng điểm xạ của em, bọn anh tin rằng khẩu đại liên sẽ phát huy tốt tác dụng nếu rơi vào tay em.
Bốc phét, lại chiến thuật “ động viên “ vớ vẩn. Nhưng tôi biết, đằng sau những lời ngọt ngào ấy là mệnh lệnh chiến đấu. Tôi không nhận mà được với các ông ấy à? Đồng thời, anh Bình cũng thông báo tôi được nâng quân hàm, từ binh nhì lên binh nhất. Trinh sát tiểu đoàn thông báo có ít nhất hơn 40 tên ngục ngã trước mũi súng của đại đội tôi. Tôi trở về bàn giao lại khẩu RPD để sang nắm tổ đại liên. Binh nhất Lê thái Thọ. Có tôi ! Và ..kình..kình...kình.. tiếng đại liên của tôi lại vang lên ròn rã, góp phần đánh bật mũi tấn công của mấy thằng Pốt chó đểu.
Rạng sáng ngày 25 .06 ( ngày sinh nhật lần thứ 19 của tôi ).Tiểu đoàn 3 của chúng tôi được lệnh rút về phía sau để nghỉ ngơi và củng cố. Trận địa phòng ngự Chi Phu được giao lại cho D1 đảm trách. Bàn giao trận địa xong, chúng tôi rút theo lộ 1 về tuyến sau, Gọi là tuyến sau nhưng thực chất cũng chỉ cách tiền duyên chừng hơn 1 cây số. Thôi thế cũng “ ấm “ chán. Nơi chúng tôi nghỉ ngơi chính là “ cứ “ anh nuôi của đại đội, một ngôi nhà sàn nằm nép mình bên phải lộ 1. Ngay trên mặt lộ bên cạnh cứ, hai khẩu 105 mm và hai khẩu cối 106,7 mm của quân đoàn hay sư đoàn suốt ngày đêm ầm ầm nhả đạn. Chúng tôi tranh thủ tắm giặt, ngủ nghê sau một tuần chiến đấu căng thẳng. Cả đại đội “ nồng nỗng “ ào ra thửa ruộng phía sau cứ. Nước ruộng trong văn vắt. Nào chạy nhảy, cười đùa té nước ầm ĩ cả một góc đồng. Nào cho tao xin tí xà phòng... Mày quê ở Phú thọ à? Thôi, kỳ cho tao cái lưng. Chiếc dép cao su chở thành vật dùng để kỳ cọ rất hiệu quả, ghét cứ bay đi hàng mảng ( vì cả tuần có tắm giặt gì đâu ), chỉ còn lại những tấm lưng, phản ngực đỏ au, sạch sẽ, mỡ màng. Quần áo phơi đầy trên những bụi cây lúp xúp. Chúng tôi nhanh chóng tạm quên ngay những ngày máu lửa, bi thương vừa trải. “ Mưa lúc nào, mát mặt lúc đó “ – Lính mà em. Lại có thư, thằng nào ít cũng phải có dăm ba lá. Tòng teng nằm trên cánh võng ( lúc này, lũ lính mới chúng tôi vừa được nhận quân trang bổ xung ), quần đùi áo may ô thoải mái, thằng thì đọc thư, thằng viết thư, thằng nghêu ngao hát hò vui vẻ. Nằm chán, tôi lại đi lên mặt lộ xem mấy khẩu pháo của ta bắn. Hay thật, tôi nhìn rất rõ quả đạn 105 mm bay ra khỏi nòng. Cõ lẽ gia tốc lúc ban đầu còn nhỏ nên đạn bay rất chậm, nhìn rõ mồn một.
Dưới bếp, mấy anh nuôi đang hồ hôi, mồ kê nhễ nhại trổ tài nấu nướng bồi dưỡng cho mấy thằng thoát chết trở về. Bữa ăn có gì nhỉ? Dưa leo, rau sống, bánh tráng, thịt heo luộc, thịt rang mặn, cơm canh đủ cả, thuốc rê thì hàng táp. Tất nhiên là không thể thiếu được can rượu trong vắt như mắt mèo. Bao nhiêu phụ cấp toàn đơn vị đều do anh nuôi giữ hộ cả. Ngoài tiền mua thuốc rê, vở viết Cogido ( dùng để cuốn thuốc là chủ yếu ) và mấy thứ lặt vặt để gửi lên trên chốt, còn lại đổ tất vào những cuộc nhậu này cả. Gạo tiền của thằng đã chết, của thằng đã bị thương đi viện. Mặc kệ, đã có nhà nước lo. Bây giờ phải lo cho những thằng còn lại, cho nó xả láng mấy hôm. Nay sống, mai ngẻo biết thế nào được.
Trong bữa nhậu, anh Bình – quyền C trưởng nói thủng thẳng :
- Tao nói trước, bọn D1 nó chẳng giữ được lâu đâu. Chúng mày cứ chuẩn bị tinh thần sẵn sàng, nó mà bục chốt là tụi mình phải lên lấy lại đó.
Mỗi một đơn vị đều có những cái “ dớp “ mà khó có thể giải thích rõ ràng rành mạch bằng lời được. Tiểu đoàn 1 của trung đoàn tôi chốt chặn rất kém. Cũng những con người ấy, vũ khí trang bị ấy, thế mà cứ động chốt là lại bị “ bung “. Mà chốt đã bị “ bung “ đơn vị nào phải đánh chiếm lại rất khổ. Máu phải đổ ra nhiều hơn so với đánh chiếm lần đầu. Cả bàn nhậu lặng đi một lúc. Anh Truyền y tá ôn tồn :
- Mày nói làm gì cho anh em nó mất vui. Lúc nào trên bảo đánh thì ta đánh. Việc của chúng ta là đánh. Lo trước làm gì cho mệt xác.
Chỉ ngày hôm sau, sau bữa nhậu buổi chiều chúng tôi được lệnh lên đường. Có lẽ nào lời nói của Anh Bình “ trắng “ đã thành sự thật. Nhưng thật ra không hẳn như vậy. Buổi trưa hôm ấy, một xe Zep chở tốp cán bộ tham mưu quân đoàn đi qua nơi nghỉ ngơi của chúng tôi lao lên chốt Chi phu. Người lái xe cứ rõi theo đường dây thông tin hữu tuyến rải ven đường mà đi. Mải nói chuyện, anh lái xe và mọi người không để ý đến đường dây hữu tuyến đã hết từ lúc nào. Bỗng phía trước mặt xuất hiện một thằng lính Pốt cầm khẩu B40 lao ra chặn đường. Bỏ mẹ rồi, thì ra xe đã vượt qua tuyến tiền duyên lúc nào không biết. Chiếc xe quay đầu định tháo lui. Không kịp nữa rồi. Ùng...oàng... hai tiếng nổ gần như chập vào một. Toàn bộ tốp cán bộ tham mưu quân đoàn chẳng thoát một ai. Lo rằng, trong tốp cán bộ có ai đó bị thương và bị địch bắt sống, kế hoạch dự định tấn công đánh chiếm nốt Chi Phu và phát triển lên chiếm cầu Tà yên sẽ bị lộ. Cấp trên ra lệnh cho Trung đoàn 1 cùng với các đơn vị bạn lập tức lên đường đánh chiếm các mục tiêu như kế hoạch đã dự tính. Chỉ có thời gian là thay đổi. Ngày N - ...
Tổ tam tam - Lê Thế Thọ (P7)
Nghe chừng đã đỡ đói và mệt, theo lệnh của tiểu đoàn, chúng tôi tiếp tục đánh chiếm ngôi trường ( cứ cho là như vậy, có bố ông giời biết là khu nhà ấy là nhà gì ? ) phía trước. Trung đội tôi tản ra, men theo những tán cây trong vườn bí mật tiếp cận sát dãy nhà . Tôi và Minh, men theo hành lang, đến một cái của sổ không có cánh cửa. Thằng Minh ra hiệu cho tôi luồn sang bên trái, nó ép sát người bên phải. Cả hai cùng rút chốt hai quả M26. Một..hai..ba, hai tiếng nổ bùng lên phía trong lớp học, thằng Minh nhanh như cắt chống tay vào bậu cửa sổ, tung người lao vào phía trong bắn loạn xạ. Tôi lạch bạch ôm súng nhảy vào theo nó. Khói tan, chẳng có thằng mẹ nào chết cả. Nhưng vì cái động tác như phim Liên xô rất gây ấn tượng của nó mà sau trận này, nó được đề nghị thưởng huân chương chiến công hạng ba còn tôi được bằng khen đấy. Trong chiến đấu, thằng Minh là một chiến sỹ rất dũng cảm, thông minh nhưng pha đôi chút lãng tử, liều lĩnh của chàng trai Hà thành. Nó cứ học ở đâu đó, trên phim, trong sách truyện rồi áp dụng vào thực tế.
Chúng tôi lao ra phía cửa sổ đằng sau, lính Pôn Pốt chạy đen cánh đồng phía sau. Chúng tôi nằm xuống bãi đất phía sau trường, khẩu RPD trong tay tôi nổ rung lên bần bật. Do tầm bắn quá thấp, tôi không thấy thằng địch nào ngã cả. Tôi hét lên :
- Minh ơi, súng thấp tầm quá.
Thằng Minh liền quay ngay lại, nó vớ ngay hai cái càng khẩu RPD của tôi, quỳ cạnh một gốc cây bên cạnh và đưa càng súng của tôi lên vai. Lại một kiểu của Bế Văn Đàn rồi. Mặc kệ, tôi siết cò. Những tràng đạn dài của chúng tôi đã quét hết toán lính địch đang chạy trên cánh đồng, hắt chúng xuống con kênh chạy dài bên cạnh. Anh Vinh “ heo “ đang đứng bên cạnh gốc cây bỗng kếu ối một cái. Một viên đạn của địch bắn trúng cái mông béo tròn của anh, máu phun ra thành vòi. Anh Nhạn băng bó cho anh Vinh xong, bộ phận vận tải liền chuyển anh Vinh về tuyến sau. Những chiếc xe tăng sau khi húc đổ ngôi trường, chồm lên hướng ra thẳng ngoài cánh đồng. Tiếng súng dần thưa thớt.
Khung cảnh buổi chiều trên chiến trường thật khó quên. Những ngôi nhà sàn gỗ bốc cháy ngùn ngụt, nổ lốp đốp, khói bốc lên đen đặc một góc trời. Đó đây, những xác giặc nằm rải rác. Bộ đội sau gần một ngày chiến đấu liên tục đã gần như kiệt sức, tranh thủ nằm nghỉ ngay trên mặt ruộng. Những chiếc xe tăng gầm gầm gừ gừ chạy tới chạy lui. Thỉnh thoảng lại oàng ..oàng bắn vào những ngôi nhà sàn còn sót ở phía xa xa. Tôi vừa nghỉ, vừa tranh thủ lắp nốt những viên đạn cuối cùng trong cơ số mang theo vào hộp tiếp đạn. Đến gần tối, chúng tôi vào tiếp quản phum Prey Ko Ki, cách Chi phu chừng 2, 3 ki lô mét về hướng đông nam. Quan sát sở đại đội đóng bên tay phải con lộ nhỏ đi lên sẽ gặp lộ 1 tại ngã ba Chi Phu. B tôi chốt ngoài rìa phum, bên tay phải đại đội. Anh Nhạn phân công tôi và Minh ra hẳn ngoài cánh đồng, đào hầm lập chốt tiền tiêu ngoài đó, cách con đường nhỏ khoảng 50m. Vừa mệt, vừa đói. Làm sao mà đào được hầm đây. Tôi và thằng Minh đi tháo những cánh cửa sổ của những ngôi nhà còn nguyên vẹn, đem về lát ngang trên rãnh dẫn nước vào ruộng, dải ni lon đi mưa xuống, căng tấm tăng lên thành một cái lều nhỏ. Súng ống để bên cạnh. Cơm nước xong xuôi, hai thằng nằm thẳng cẳng trên chốt. Quá ngon !!!
Tới gần nửa đêm, cơn mưa ập đến xối xả, nước mưa rơi trên mái tăng cứ rào rào như gõ trống, phía dưới gầm lều, nước chảy mạnh thành dòng. Hai thằng chúng tôi cứ thu lu trong lều, lúc đầu còn cảnh giác thay nhau căng mắt ra theo rõi xung quanh. Đến lúc mệt quá rồi thì .... kệ mẹ địch. Các bố chúng mày phải ngủ cái đã. Sống chết có số. Thế là hai thằng cứ nằm ôm nhau ngủ giữa đồng không mông quạnh, đánh thẳng một giấc đến khi trời sáng.
Sáng hôm sau, có lệnh dừng củng cố tại chỗ. Tôi và Minh đi lang thang xem những ngôi nhà nằm trong khu vực đóng quân của đại đội. Trong một ngôi nhà, tôi nhặt được một con dao găm lưỡi dao cong cong, chuôi sừng có nạm bạc rất sắc và đẹp. Trong khi lang thang, thỉnh thoảng bọn địch từ phía đầu phum mạn Chi phu phát hiện thấy bọn tôi lại bắn 12 ly 8, hàng loạt tiếng nổ chát chúa cùng.. cùng.. cùng, cùng ...cùng ...cùng. Cóc sợ !!! Có lẽ trải qua trận chiến đấu như ngày hôm qua, thì tiếng cùng...cùng vớ vẩn của khẩu 12 ly 8 không còn gây.....sao xuyến cho hai thằng tôi nữa.
Buổi chiều 17.06, chúng tôi nhận được thư nhà do anh nuôi mang tới. Nào thư của Bố mẹ, thư của các em tôi, thư của các bạn... Thằng Minh mặt mày hớn hở. Nó nhận được thư của Minh Nguyệt – Trăng Sáng. “ Anh Minh mến nhớ “ - lần đầu tiên Nguyệt gọi tao bằng anh đấy, nó vui vẻ khoe với tôi. Chúng tôi ngồi trên ngôi nhà sàn đổ nát, cùng chung nhau đọc những cánh thư nhà. Buồn vui lẫn lộn.
Sau hai ngày dừng lại nghỉ ngơi, củng cố đơn vị. Rạng sáng ngày 19.06, trung đoàn chúng tôi tổ chức đánh chiếm ngã ba Chi phu. Vào khoảng 3 giờ sáng chúng tôi bắt đầu hành quân, đến hơn 4 giờ sáng tiểu đoàn 3 bí mật tiếp cận mục tiêu, hướng tấn công của tiểu đoàn 3 là hướng đông nam, phía bên tay trái ngã ba Chi phu. Qua mấy đêm mưa liên tục, nước ngập đầy các thửa ruộng mà mấy bữa trước còn khô nứt nẻ. Kiểu này T54 khó mà đánh hành tiến cùng với bộ binh đây. Tôi thoáng nghĩ. Dù mới tham gia chiến đấu nhưng tôi đã có được cái cảm giác “ ấm sườn “ mỗi khi nghĩ đến có xe tăng cùng tham gia trận đánh. Vững tin lắm, yên tâm lắm các bạn ạ. Bò vào sát vị trí được phân công, theo lệnh của anh Nhạn, mỗi đứa chúng tôi đào một cái hầm, nói là hầm cho oai chứ nó chỉ to hơn cái ổ gà đẻ tí chút. Nhờ có mưa, đất mềm nên chỉ sau mấy phút hai đứa chúng tôi đã dũi xong hai cái....ổ. Nước ngấm vào rất nhanh, phút chốc hai cái ổ đã ngập đầy nước. Thằng Minh lăn xuống nằm rồi thì thầm với tôi : “ Như là hồ bơi Quảng bá mày ạ “. Cái thằng, lúc nào nó cũng tếu táo được. Có lẽ nó cố tình như vậy để quên đi nỗi buồn của gia đình nó chăng? Cha là một hoạ sỹ tài hoa, mẹ là nghệ sỹ đoàn cải lương Chuông vàng. Ông bà chia tay để lại cho nó nỗi buồn khôn tả, rồi cô bạn gái của nó – Trăng Sáng kia nữa, nó ngỏ lời mà chưa được đáp lại. Tất cả điều ấy đều đọng lại trong đôi mắt của nó, tôi biết rõ như vậy. Có thể cũng vì những điều ấy mà trong chiến đấu, nó bao giờ cũng lao lên phía trước. Mạnh mẽ, dứt khoát đôi chút liều lĩnh bất chấp những hiểm nguy đang đe doạ bản thân mình. Cho đến bây giờ, khi ngồi viết những dòng này, những hành động đầy quả cảm, máu lửa và kiêu hùng của thằng Minh, người đồng đội, đồng hương thân yêu vẫn hiện lên rõ nét trong tâm chí của tôi hơn bao giờ hết.
5g30 ! Tiếng pháo chi viện của quân đoàn, sư đoàn đã phát hoả. Vi..u u .. Oành.. oành.. Những ánh lửa loé lên như chớp giật, những đám lửa bùng cháy như muốn xé rách bầu trời vừa tảng sáng. Tiếng súng các cỡ nổ dồn dập. Này, chết mẹ mày đi này, này chết cụ mày đi này.... vừa lẩm bẩm trong mồm, tôi vừa xiết cò súng. Từng tràng đạn nổ dài hoà nhịp với tất cả. Trong tôi, mọi suy nghĩ vớ vẩn về cái chết, về quê hương, gia đình, bạn bè lúc trước khi nổ súng bỗng biến đâu hết cả. Pháo chi viện vừa ngưng bắn. Xung pho..o..ong! Tôi sách súng vượt qua mấy bụi cây Mắc cỡ, ào lên chiếm ngay mô đất sát cạnh ngã ba. Bọn địch dựa vào hệ thống hầm hào phòng ngự, chống đỡ quyết liệt. Tiếng DK75, DK82 của địch nổ chát chúa, mấy chiếc tăng T54 không thể tiến lên được. Mùa mưa đã đến, T54 chỉ còn mỗi con đường độc đạo là lộ 1, nên không thể tạo thế bao vây chia cắt quân địch. Chúng tôi giành nhau với địch từng mét đất trong ngã ba. Đến quá trưa, địch – ta chia nhau mỗi bên giữ một nửa thị trấn Chi Phu. đại đội chúng tôi chiếm được một khu nhà sàn ngay sát bên trái lộ 1. Chúng tôi nhanh chóng đào hầm, triển khai kế hoạch chiến đấu phòng ngự giữ chốt.
Những bữa ăn lương khô + nước ao tù của mấy ngày qua, lúc này đã bắt đầu phát huy tác dụng với tôi. Bụng tôi đau quặn. Tôi cứ xì xoẹt suốt, không biết là bao nhiêu lần. Người choáng váng, mệt bã. Tôi vốn có bộ máy tiêu hoá cực kém ( theo “ gia truyền “ của gia đình bên nội ), nên cứ ăn hơi lạ bụng là biết tay nhau ngay. Thằng Minh lo lắng ra mặt, nó trèo lên cây ổi ngay cạnh hầm, hái mấy bút ổi non đưa cho tôi nhai, nuốt. Sang ngày hôm sau, cái bụng tôi êm dần.
Thời gian chốt tại Chi phu của đại đội tôi không hề êm ả như lần chốt trước. Địch – ta cùng chung nhau một nơi, chỉ cách nhau có một khoảng trống nhỏ rộng chừng hơn 100 mét. Phía trước hầm của B tôi là một rặng le dày, bên một gốc cây Me cổ thụ, trước rặng le là một cái giếng xây, vài ruộng rau muống đã cằn. Qua mấy ruộng rau đã là bên địch. Bên phải ruộng, sát lộ 1 là những bầu sen chạy dài lên phía trước. Sáng nào cũng vậy, lũ M113 gắn DK 75, DK 82, pháo 105 mm của địch nằm bên kia sông Bang Kougne phía cầu Tà Yên cũng ùng oành nhả đạn vào chốt của chúng tôi từ sáng đến trưa thì mới dứt. Bọn lính bộ binh địch thì hò hét trô..trô..trô nhặng xị. Chúng tôi bình tĩnh đợi địch đến gần rồi đồng loạt nổ súng hất ngược bọn chúng ra xa. Cứ như vậy, ngày nào cũng giống ngày nào, kéo dài hết cả tuần. Xế trưa ngày 22.06, Anh B phó họ Quách tên Um hay Sum rất khó nhớ, lên sát gốc cây Me để quan sát tình hình địch, một quả cối 82 nổ bất thình lình ngay trên ngọn, mảnh văng tứ tung. Anh gục xuống tại chỗ, anh Truyền – y tá đại đội băng lên kéo anh vào nấp sau bức tường đổ. Chúng tôi xé áo của anh ra, một dòng máu đỏ tươi dịn ra ngay sát dưới vú trái. Anh đã tắt thở.
- Đứt cuống tim chúng mày ạ. Anh Truyền thở dài phán.
Cũng mảnh quả cối đó, thằng Minh dính ngay một mảnh vào ngón tay ở bàn tay phải.
- “ Nhẹ thôi “, trúng mánh rồi. Nó nhe răng cười với tôi và giao hẹn
- Tao đi viện vài ngày rồi lại về với mày.
Thế là còn lại chỉ mình tao. Tôi thầm nghĩ. Xung quanh vẫn còn biết bao đồng đội nhưng tôi vẫn không tránh được cái cảm giác trống trải khẽ len vào tôi. Có nó ở bên cạnh chia sẻ, tôi yên tâm biết bao.
Chúng tôi lao ra phía cửa sổ đằng sau, lính Pôn Pốt chạy đen cánh đồng phía sau. Chúng tôi nằm xuống bãi đất phía sau trường, khẩu RPD trong tay tôi nổ rung lên bần bật. Do tầm bắn quá thấp, tôi không thấy thằng địch nào ngã cả. Tôi hét lên :
- Minh ơi, súng thấp tầm quá.
Thằng Minh liền quay ngay lại, nó vớ ngay hai cái càng khẩu RPD của tôi, quỳ cạnh một gốc cây bên cạnh và đưa càng súng của tôi lên vai. Lại một kiểu của Bế Văn Đàn rồi. Mặc kệ, tôi siết cò. Những tràng đạn dài của chúng tôi đã quét hết toán lính địch đang chạy trên cánh đồng, hắt chúng xuống con kênh chạy dài bên cạnh. Anh Vinh “ heo “ đang đứng bên cạnh gốc cây bỗng kếu ối một cái. Một viên đạn của địch bắn trúng cái mông béo tròn của anh, máu phun ra thành vòi. Anh Nhạn băng bó cho anh Vinh xong, bộ phận vận tải liền chuyển anh Vinh về tuyến sau. Những chiếc xe tăng sau khi húc đổ ngôi trường, chồm lên hướng ra thẳng ngoài cánh đồng. Tiếng súng dần thưa thớt.
Khung cảnh buổi chiều trên chiến trường thật khó quên. Những ngôi nhà sàn gỗ bốc cháy ngùn ngụt, nổ lốp đốp, khói bốc lên đen đặc một góc trời. Đó đây, những xác giặc nằm rải rác. Bộ đội sau gần một ngày chiến đấu liên tục đã gần như kiệt sức, tranh thủ nằm nghỉ ngay trên mặt ruộng. Những chiếc xe tăng gầm gầm gừ gừ chạy tới chạy lui. Thỉnh thoảng lại oàng ..oàng bắn vào những ngôi nhà sàn còn sót ở phía xa xa. Tôi vừa nghỉ, vừa tranh thủ lắp nốt những viên đạn cuối cùng trong cơ số mang theo vào hộp tiếp đạn. Đến gần tối, chúng tôi vào tiếp quản phum Prey Ko Ki, cách Chi phu chừng 2, 3 ki lô mét về hướng đông nam. Quan sát sở đại đội đóng bên tay phải con lộ nhỏ đi lên sẽ gặp lộ 1 tại ngã ba Chi Phu. B tôi chốt ngoài rìa phum, bên tay phải đại đội. Anh Nhạn phân công tôi và Minh ra hẳn ngoài cánh đồng, đào hầm lập chốt tiền tiêu ngoài đó, cách con đường nhỏ khoảng 50m. Vừa mệt, vừa đói. Làm sao mà đào được hầm đây. Tôi và thằng Minh đi tháo những cánh cửa sổ của những ngôi nhà còn nguyên vẹn, đem về lát ngang trên rãnh dẫn nước vào ruộng, dải ni lon đi mưa xuống, căng tấm tăng lên thành một cái lều nhỏ. Súng ống để bên cạnh. Cơm nước xong xuôi, hai thằng nằm thẳng cẳng trên chốt. Quá ngon !!!
Tới gần nửa đêm, cơn mưa ập đến xối xả, nước mưa rơi trên mái tăng cứ rào rào như gõ trống, phía dưới gầm lều, nước chảy mạnh thành dòng. Hai thằng chúng tôi cứ thu lu trong lều, lúc đầu còn cảnh giác thay nhau căng mắt ra theo rõi xung quanh. Đến lúc mệt quá rồi thì .... kệ mẹ địch. Các bố chúng mày phải ngủ cái đã. Sống chết có số. Thế là hai thằng cứ nằm ôm nhau ngủ giữa đồng không mông quạnh, đánh thẳng một giấc đến khi trời sáng.
Sáng hôm sau, có lệnh dừng củng cố tại chỗ. Tôi và Minh đi lang thang xem những ngôi nhà nằm trong khu vực đóng quân của đại đội. Trong một ngôi nhà, tôi nhặt được một con dao găm lưỡi dao cong cong, chuôi sừng có nạm bạc rất sắc và đẹp. Trong khi lang thang, thỉnh thoảng bọn địch từ phía đầu phum mạn Chi phu phát hiện thấy bọn tôi lại bắn 12 ly 8, hàng loạt tiếng nổ chát chúa cùng.. cùng.. cùng, cùng ...cùng ...cùng. Cóc sợ !!! Có lẽ trải qua trận chiến đấu như ngày hôm qua, thì tiếng cùng...cùng vớ vẩn của khẩu 12 ly 8 không còn gây.....sao xuyến cho hai thằng tôi nữa.
Buổi chiều 17.06, chúng tôi nhận được thư nhà do anh nuôi mang tới. Nào thư của Bố mẹ, thư của các em tôi, thư của các bạn... Thằng Minh mặt mày hớn hở. Nó nhận được thư của Minh Nguyệt – Trăng Sáng. “ Anh Minh mến nhớ “ - lần đầu tiên Nguyệt gọi tao bằng anh đấy, nó vui vẻ khoe với tôi. Chúng tôi ngồi trên ngôi nhà sàn đổ nát, cùng chung nhau đọc những cánh thư nhà. Buồn vui lẫn lộn.
Sau hai ngày dừng lại nghỉ ngơi, củng cố đơn vị. Rạng sáng ngày 19.06, trung đoàn chúng tôi tổ chức đánh chiếm ngã ba Chi phu. Vào khoảng 3 giờ sáng chúng tôi bắt đầu hành quân, đến hơn 4 giờ sáng tiểu đoàn 3 bí mật tiếp cận mục tiêu, hướng tấn công của tiểu đoàn 3 là hướng đông nam, phía bên tay trái ngã ba Chi phu. Qua mấy đêm mưa liên tục, nước ngập đầy các thửa ruộng mà mấy bữa trước còn khô nứt nẻ. Kiểu này T54 khó mà đánh hành tiến cùng với bộ binh đây. Tôi thoáng nghĩ. Dù mới tham gia chiến đấu nhưng tôi đã có được cái cảm giác “ ấm sườn “ mỗi khi nghĩ đến có xe tăng cùng tham gia trận đánh. Vững tin lắm, yên tâm lắm các bạn ạ. Bò vào sát vị trí được phân công, theo lệnh của anh Nhạn, mỗi đứa chúng tôi đào một cái hầm, nói là hầm cho oai chứ nó chỉ to hơn cái ổ gà đẻ tí chút. Nhờ có mưa, đất mềm nên chỉ sau mấy phút hai đứa chúng tôi đã dũi xong hai cái....ổ. Nước ngấm vào rất nhanh, phút chốc hai cái ổ đã ngập đầy nước. Thằng Minh lăn xuống nằm rồi thì thầm với tôi : “ Như là hồ bơi Quảng bá mày ạ “. Cái thằng, lúc nào nó cũng tếu táo được. Có lẽ nó cố tình như vậy để quên đi nỗi buồn của gia đình nó chăng? Cha là một hoạ sỹ tài hoa, mẹ là nghệ sỹ đoàn cải lương Chuông vàng. Ông bà chia tay để lại cho nó nỗi buồn khôn tả, rồi cô bạn gái của nó – Trăng Sáng kia nữa, nó ngỏ lời mà chưa được đáp lại. Tất cả điều ấy đều đọng lại trong đôi mắt của nó, tôi biết rõ như vậy. Có thể cũng vì những điều ấy mà trong chiến đấu, nó bao giờ cũng lao lên phía trước. Mạnh mẽ, dứt khoát đôi chút liều lĩnh bất chấp những hiểm nguy đang đe doạ bản thân mình. Cho đến bây giờ, khi ngồi viết những dòng này, những hành động đầy quả cảm, máu lửa và kiêu hùng của thằng Minh, người đồng đội, đồng hương thân yêu vẫn hiện lên rõ nét trong tâm chí của tôi hơn bao giờ hết.
5g30 ! Tiếng pháo chi viện của quân đoàn, sư đoàn đã phát hoả. Vi..u u .. Oành.. oành.. Những ánh lửa loé lên như chớp giật, những đám lửa bùng cháy như muốn xé rách bầu trời vừa tảng sáng. Tiếng súng các cỡ nổ dồn dập. Này, chết mẹ mày đi này, này chết cụ mày đi này.... vừa lẩm bẩm trong mồm, tôi vừa xiết cò súng. Từng tràng đạn nổ dài hoà nhịp với tất cả. Trong tôi, mọi suy nghĩ vớ vẩn về cái chết, về quê hương, gia đình, bạn bè lúc trước khi nổ súng bỗng biến đâu hết cả. Pháo chi viện vừa ngưng bắn. Xung pho..o..ong! Tôi sách súng vượt qua mấy bụi cây Mắc cỡ, ào lên chiếm ngay mô đất sát cạnh ngã ba. Bọn địch dựa vào hệ thống hầm hào phòng ngự, chống đỡ quyết liệt. Tiếng DK75, DK82 của địch nổ chát chúa, mấy chiếc tăng T54 không thể tiến lên được. Mùa mưa đã đến, T54 chỉ còn mỗi con đường độc đạo là lộ 1, nên không thể tạo thế bao vây chia cắt quân địch. Chúng tôi giành nhau với địch từng mét đất trong ngã ba. Đến quá trưa, địch – ta chia nhau mỗi bên giữ một nửa thị trấn Chi Phu. đại đội chúng tôi chiếm được một khu nhà sàn ngay sát bên trái lộ 1. Chúng tôi nhanh chóng đào hầm, triển khai kế hoạch chiến đấu phòng ngự giữ chốt.
Những bữa ăn lương khô + nước ao tù của mấy ngày qua, lúc này đã bắt đầu phát huy tác dụng với tôi. Bụng tôi đau quặn. Tôi cứ xì xoẹt suốt, không biết là bao nhiêu lần. Người choáng váng, mệt bã. Tôi vốn có bộ máy tiêu hoá cực kém ( theo “ gia truyền “ của gia đình bên nội ), nên cứ ăn hơi lạ bụng là biết tay nhau ngay. Thằng Minh lo lắng ra mặt, nó trèo lên cây ổi ngay cạnh hầm, hái mấy bút ổi non đưa cho tôi nhai, nuốt. Sang ngày hôm sau, cái bụng tôi êm dần.
Thời gian chốt tại Chi phu của đại đội tôi không hề êm ả như lần chốt trước. Địch – ta cùng chung nhau một nơi, chỉ cách nhau có một khoảng trống nhỏ rộng chừng hơn 100 mét. Phía trước hầm của B tôi là một rặng le dày, bên một gốc cây Me cổ thụ, trước rặng le là một cái giếng xây, vài ruộng rau muống đã cằn. Qua mấy ruộng rau đã là bên địch. Bên phải ruộng, sát lộ 1 là những bầu sen chạy dài lên phía trước. Sáng nào cũng vậy, lũ M113 gắn DK 75, DK 82, pháo 105 mm của địch nằm bên kia sông Bang Kougne phía cầu Tà Yên cũng ùng oành nhả đạn vào chốt của chúng tôi từ sáng đến trưa thì mới dứt. Bọn lính bộ binh địch thì hò hét trô..trô..trô nhặng xị. Chúng tôi bình tĩnh đợi địch đến gần rồi đồng loạt nổ súng hất ngược bọn chúng ra xa. Cứ như vậy, ngày nào cũng giống ngày nào, kéo dài hết cả tuần. Xế trưa ngày 22.06, Anh B phó họ Quách tên Um hay Sum rất khó nhớ, lên sát gốc cây Me để quan sát tình hình địch, một quả cối 82 nổ bất thình lình ngay trên ngọn, mảnh văng tứ tung. Anh gục xuống tại chỗ, anh Truyền – y tá đại đội băng lên kéo anh vào nấp sau bức tường đổ. Chúng tôi xé áo của anh ra, một dòng máu đỏ tươi dịn ra ngay sát dưới vú trái. Anh đã tắt thở.
- Đứt cuống tim chúng mày ạ. Anh Truyền thở dài phán.
Cũng mảnh quả cối đó, thằng Minh dính ngay một mảnh vào ngón tay ở bàn tay phải.
- “ Nhẹ thôi “, trúng mánh rồi. Nó nhe răng cười với tôi và giao hẹn
- Tao đi viện vài ngày rồi lại về với mày.
Thế là còn lại chỉ mình tao. Tôi thầm nghĩ. Xung quanh vẫn còn biết bao đồng đội nhưng tôi vẫn không tránh được cái cảm giác trống trải khẽ len vào tôi. Có nó ở bên cạnh chia sẻ, tôi yên tâm biết bao.
Tổ tam tam - Lê Thế Thọ (P6)
Rồi thì cuối cùng, đêm gác đầu tiên trên chiến tuyến cũng đã trôi qua một cách yên bình. Mấy ngày hôm sau, chúng tôi khi thì kiểm tra sửa sang lại công sự, khi thì ngồi tán tào lao. Các anh lính cũ đã nhìn chúng tôi bằng ánh mắt thân thiện. Các anh tận tình chỉ bảo tỉ mỉ cho chúng tôi từng tí một. Sáu tháng huấn luyện có lẽ chẳng có tác dụng sát sườn bằng những cuộc nói chuyện tào lao xung quanh ấm trà Blao và gói thuốc rê lúc này. Thằng Minh ngồi tỷ mẩn khắc tên Minh Nguyệt bằng tiếng Trung Quốc lên quả da láng M26. Cái thằng đến là tài hoa. Chơi đàn ghita cũng được, hát cũng được, vẽ vời cũng không đến nỗi nào. Nó được thừa hưởng cái gien tài hoa của Bố nó, hoạ sỹ Quang Mộng Goòng. Dáng cao cao, trắng trẻo, nếu không có chiến tranh thằng này mà đi cua gái thì khối em “ chết “ với nó. Khắc xong nó thầm thì với tôi : “ Quả này tao sẽ dùng để chia đôi với tụi nó. Chúng nó không bao giờ bắt sống được thằng Minh này”. Có lẽ những câu chuyện bên bàn trà về sự dã man của lính Pôn Pốt đối với tù binh đối phương khi rơi vào tay chúng đã tác động đến thằng Minh. Nó lau chùi quả M26 đến là cẩn thận. Chắc nó lo rằng khi cần sử dụng đến mà quả lựu đạn này lại không nổ chăng? Các bữa ăn buổi sáng và buổi trưa vẫn diễn ra như thưòng lệ, cơm nắm và tép rang. Riêng buổi chiều, anh nuôi mang trực tiếp....tép rang và cơm nóng lên trận địa. Ôi, cái món tép chết tiệt ấy. Vừa mặn chát, sạn ngấm sạn ngầm lại còn có mùi tanh tanh, thum thủm. Thật khó mà nuốt được. Tôi thuộc vào cái loại “ phàm phu tục tử “ mà cũng thấy chối. Được cái, đơn vị đang hoạt động tĩnh tại, các anh em trong các B cũng rất chịu khó cải thiện. Nào thì rau tập tàng nấu canh, vài ngọn lá ớt, vài ngọn rau dền, mùng tơi, vài ngọn rau muống mọc hoang và cả cái thứ rau gì lá hơi tim tím, nhơn nhớt hình giống như ba ngón tay xoè ăn chua chua, ngọt ngọt như có mì chính mà tôi quên mất tên ( Nấu canh cá thì tuyệt vời - Ở Việt nam tôi không thấy có ), thế là được một nồi canh hoàn hảo, nào thì ớt xanh bằm trộn bột canh và ....thịt chuột đồng. Anh B phó họ Quách ( tôi quên mất tên ) người dân tộc Mường – Hoà Bình làm bẫy bắt chuột rất nghề. Chỉ một vài đoạn lõi dây dù, vài thanh tre là có được ngay dăm cái bẫy. Bỏ một ít hạt cơm vào cái hốc khoét ở bờ ruộng là sáng hôm sau, tôi đã thấy 2 ống đựng đạn DK82 đầy nhóc toàn chuột. Sợ xanh mắt !!! Những bữa ăn như vậy, tôi thường chuồn sang B bên cạnh ngồi ăn với chúng nó để khỏi phải thưởng thức cái món thịt chuột dù rằng rất ngon lành kia. Thỉnh thoảng, anh Nhạn lại kiếm ở đâu mang về cho chúng tôi một vài mầm ngọn cây dừa. Ngọt và ngon ra phết. Ăn ngon hơn khoai lang sống rất nhiều.
Lại nói một chút về nơi chúng tôi đứng chân. B tôi chiếm giữ một vị trí ở đầu phum, ngay phía sau lưng là một con đường nhỏ nối phum với lộ 1 dài chừng 100 m, chếch sang bên trái, phía sau con đường là nơi đặt khẩu DK 82 của C14 thằng Long ngay cạnh vườn trồng đào lột hột. Phía trước băng qua một cánh đồng hẹp rộng chừng 250 mét là phum Ang Kunh địch đang chiếm giữ. Bên tay phải là chốt của B1 trong cùng đại đội. B của tôi nằm ngoài cùng, hơi chếch phía trên so với khẩu DK của C14. Chếch bên tay phải là một khoảng rừng tràm thấp nhưng rất rậm rạp. Bọn địch thường lợi dụng khu rừng tràm này để lẻn vào tập kích đơn vị tôi. Chốt của tôi, thằng Minh, anh Nhạn là một khu vườn nhỏ nằm ngoài cùng. Trên chốt có hai cái hầm, một hầm chữ Z là hầm chiến đấu, một hầm thùng dùng để ngủ. Trên nóc hầm thùng có lát bằng ba tấm gỗ tốt, dày khoảng 15 phân to như chiếc phản. Mặt gỗ bóng nhãy. Chiều nào yên tĩnh, tôi và thằng Minh cũng leo lên nóc hầm nằm gác chân lên nhau nói chuyện chơi. Chuyện gia đình, chuyện quê hương, bạn bè, chuyện về “ Trăng sáng “ của nó. Nó cứ nhớ mãi hình ảnh đôi chân trắng nõn của nàng khi đi gánh nước. Trắng nõn...trắng sáng...trắng lấp lánh chập chờn khi ẩn khi hiện trong dòng hồi tưởng. Rồi nó kể nó làm quen với cô nàng ra sao, chuyện tình của nó với cô nàng đến đâu rồi... Còn tôi, tôi cứ nằm trên tấm phản, vừa nghe chuyện của nó, vừa ngắm nhìn những đàn ngỗng trời bay miệt mài lên hướng bắc. Ôi, giá mà mình được là con ngỗng này nhỉ. Chắc chỉ một hai hôm sau là mình có thể chao cánh bay lượn trên bầu trời Hà nội thân thuộc rồi. Cứ như vậy...
Hôm nào rảnh, chúng tôi lại chuồn sang khẩu đội DK 82 của thằng Long chơi. Sang đó để ngồi nghe chuyện do một anh lính 74 người Thanh hoá kể, thôi thì đủ các chuyện. Từ “ Vết thù hằn trên lưng ngựa hoang “, rồi chuyện Tam quốc... ( Mà sao anh ấy lại có thể thuộc làu làu đến như vậy nhỉ? ). Khi thì tán chuyện tào lao đủ thứ trên đời.
Thằng Long vẫn cứ như vậy, vẫn ù lì như thường lệ. Nó ngồi trong hầm chăm chú đọc sách mặc kệ mọi chuyện ầm ào diễn ra xung quanh. Nó đọc những gì mà chăm chú đến vậy? Thưa các bạn, nó đang nghiền nào tiếng Anh, toán, lý ,hoá ... Nó bảo với tôi rằng nó phải ôn kẻo lại quên mất. Sau khi ra quân, nó sẽ tiếp tục thi vào Bách khoa. Ôi, ông bạn “ Thần sầu “ của tôi ơi, ông mơ mộng quá, hâm quá mất rồi. Nhưng rồi sau đó một tuần, trong trận đánh tấn công đầu tiên, dưới sức nặng của những quả DK 82 nó phải mang vác, nó mới hiểu ra rằng có lẽ những quyển sách toán , lý, hoá ...kia phải ném xuống vệ đường. Có chăng chỉ giữ lại quyển nào có giấy tốt tốt, mềm mềm để phục vụ cho công đoạn cuối cùng trong hệ ...tiêu hoá. ( Lúc ấy, chưa thằng nào trong chúng tôi nghiện thuốc lá, thuốc rê ).
Chiều ngày 15.06.1978, chúng tôi tập trung lên quan sát sở đại đội nghe bổ biến về chiến dịch tấn công sẽ diễn ra ngày mai. Chúng tôi sẽ phải đánh chiếm mục tiêu là ngã ba Chi Phu. Đội hình tiến công sẽ được xe tăng T54 và M41 yểm trợ, pháo quân đoàn, pháo sư đoàn chi viện bằng 155 mm và 105 mm. Tôi thấy thái độ của anh Nhạn tỏ ra rất vui. Anh bảo chúng tôi:
- Ngày mai đánh chắc cũng nhàn thôi, đù má ( lại đù má ) chúng mày đừng lo.
Chúng tôi được phát bổ xung đạn dược, lương khô và mỗi thằng tiêu chuẩn được một hộp thịt gà - Hà lan hẳn hoi, nặng 800gr. Bên ngoài có đề “ hàng viện trợ cho nhân dân Việt nam trong cơn bão số... “. Có lẽ chúng tôi may mắn được hưởng ké đây mà. Buổi chiều hôm ấy, bữa cơm thật là tươm tất. Có canh rau tập tàng, có đọt dừa xào với...nước thịt gà hộp, có thịt gà hộp đã ướp thêm chút gia vị, bột ngọt, có bát bột canh trộn ớt bằm nhuyễn. Tất nhiên không thể quên cảm ơn các anh nuôi đã mang cho các B một vài lít chất cay. Cứ chén xả phanh đi, ngày mai rồi hãy tính. Đã có mỗi thằng mấy phong lương khô 701 rồi, sợ gì đói. Bữa ăn thật quá đã. Ăn xong, có trà Blao, thuốc lá Đà lạt. Chỉ cần cạy quả mìn Claymo ra, véo một ít thuốc nổ bằng đầu ngón tay dẻo như kẹo kéo là chúng tôi đủ nấu nước uống cho cả bọn. Ngọn lửa xanh lè, nóng rừng rực.
5 giờ sáng hôm sau, chúng tôi băng qua mấy thửa ruộng trước mặt, bí mật tiền nhập, chiếm lĩnh vị trí tấn công. Tiến đến sát bờ tre phía ngoài phum Ang Kunh trước mặt, thằng Minh, anh Nhạn giá chặt 2 quả Claymo xuống đất, rồi dòng dây điện về chỗ chúng tôi. Tôi cũng giá khẩu RPD nhằm thẳng vào ô cửa sổ của căn nhà sàn lợp ngói.
Oàng...oàng....oàng... Pháo quân đoàn, sư đoàn đã đồng loạt nổ. Những ánh lửa chớp lên nhang nháng. Ùng ..oàng..ùng...oàng tiếng DK82 của B thằng Long đang quất từng quả đĩnh đạc. Anh Nhạn, thằng Minh cũng bấm 2 quả Claymo, thực ra tôi đã nhìn thấy thằng địch nào đâu mà hai ông ấy vẫn cứ bấm. Chắc cho nó nhẹ để còn xung phong. Tôi nhằm thẳng ô cửa sổ kéo từng điểm xạ ngắn. Anh Nhạn nhìn tôi gật gù ra chiều ưng ý lắm. Liếc sang cạnh, thằng Minh mặt lấm tấm mồ hôi đang mím mồm, mím lợi điểm xạ hai viên một. Chà, bài học “ sâu tay cò, không lo tắc cú “ bây giờ mới mang ra sử dụng đây, Tôi thầm nghĩ. Phía bên tay trái, trên lộ 1, những chiếc xe tăng T54 và M41 lừ lừ hành tiến, thỉnh thoảng lại giật lên một cái, chớp lửa đầu nòng loé lên rồi tôi mới nghe thấy một tiếng... Oành !
- Đù má, lên tụi bay.
Anh Nhạn tay xách khẩu M79 vọt lên phía trước. Thằng Minh tiến sát theo sau. Tôi lễ mễ ôm khẩu súng “ khốn nạn “ của tôi lao lên, vừa chạy tôi vừa quét túi bụi. Bắn bừa đi cho nó nhẹ bớt. Tiếp cận được tới bờ một con kênh đào, tôi dừng lại để thay hộp tiếp đạn. Thế là hết 100 viên. Bọn địch không chịu nổi trước sức tấn công mãnh liệt của chúng tôi đã bắt đầu rút chạy. Chúng chạy toé ra cánh đồng phía bên tay phải. Những bóng người mặc quần áo đen chạy bán sống bán chết. Thằng mang theo vũ khí, thằng chạy tay không. Chắc là bên cánh trái, với sự có mặt của xe tăng, chúng không dám rút theo phía bên ấy. Chúng không ngờ rằng bên này lại có chúng tôi đang nằm phục đóng lõng. Cả B tôi đồng loạt nổ súng, tiếng cóc..cóc.. oành .. oành của khẩu M79 của anh Nhạn rung lên như tiếng trống, tiếng AK của thằng Minh, tiếng RPD của tôi hoà nhịp hệt như một dàn hoà tấu khi khoan, khi nhặt. Vừa bắn, tôi lại phải vừa để ý nhặt từng dây tiếp đạn rơi ra. Không nhặt thì tí nữa lấy gì mà lắp đạn. Sao cái loại súng này thiết kế dở thế không biết !!! Chúng tôi lao dọc theo bờ kênh, tiến một đoạn ngắn, tôi nhìn thấy một thắng lính Pôn Pốt, nằm ngay trong lòng kênh cạn nước thở phì phò. Một đoạn ruột chắc dính mảnh xé rách bụng lòi ra ngoài. Tôi bỗng thấy thương cảm, đi đến gần định lấy ra cuộn bằng Mỹ để băng giúp cho nó. Thằng Minh gọi giật giọng :
- Thọ, để đấy tao băng cho nó cho.
Tôi vừa ngoảnh lại thì tằng tằng...tằng tằng. Cả bốn viên AK đã găm vào ngực tên lính. Thằng Miên mắt trợn ngược lên, đầu nghẹo sang một bên. Nó đã về với nước chúa.
Thằng Minh lầu bầu :
- Đằng nào mà nó chẳng chết, lòi ruột gan ra rồi. Mày băng cho nó, thế tí nữa mày bị thì lấy c..ra mà băng à?
Nó mắng tôi xối xả. Dù thế nào, trong tôi vẫn cảm thấy bàng hoàng. Đến gần trưa, chúng tôi đã tiến được chừng khoảng 1 cây số và nhập vào đội hình chiến đấu của tiểu đoàn. Vác trên vai khẩu súng, tôi lững thững đi theo sau mấy cái T54 đang hành tiến. Cạnh đấy, thằng Long mặt mày đen nhẻm khói súng vừa đi vừa cười nhăn nhó, quả DK 82 trên vai chắc là nặng lắm đấy. Ba lô sách của nó đã biến đi đâu mất, thay vào đó là cái túi mìn Claymo mỏng mảnh. Có thế chứ, đã sáng mắt ra chưa “ con “.
Giữa trận mạc tùm lum khói súng thế này còn bày đặt học với cả hành. Đúng là “ cả ngố “. Anh Nhạn nhay nháy mắt cười, nói với chúng tôi :
- Đù má, tao đã bảo mà. Chúng mày thấy không, trận này đánh nhàn lắm mà.
Ngã ba Chi phu vẫn còn cách xa chừng hai, ba cây số. Chúng tôi không đánh thẳng theo trục lộ mà lại rẽ sang phía tay trái đánh sang Phum Prey Ko Ki. Phía trước, cách chừng 200 m là mấy dãy nhà ngói dài, xem chừng giống như một khu trường học cũ. Cặp bên trái khu trường là một con kênh khô cạn chạy dọc thẳng tắp. Phía trước khu trường, bên cạnh chiếc ao nhỏ, những bụi chuối mọc xanh mướt mát. Chúng tôi vọt lên chạy phía trước những chiếc xe tăng, bỗng thằng Minh lấy báng súng gõ gõ vào thằng chiếc T54, anh lính phụ trách khẩu 12 ly 8 cúi xuống gào lên :
- Cái gì vậy ông?
Theo hướng tay chỉ của thằng Minh, một khẩu 12 ly 8 của địch đặt trên ô cửa sổ ngôi nhà sàn mái ngói phía xa đang khạc lửa mãnh liệt vào đội hình chúng tôi. Anh lính xe tăng gật đầu rồi tụt vào xe. Chiếc xe dừng lại, chiếc nòng pháo, từ từ quay o o lấy hướng xạ kích. Oàng.... một nửa ngôi nhà mái đỏ biến mất. Quá chính xác ! Với khoảng cách gần một cây số mà T54 bắn, phải nói là “ thôi rồi Lượm ơi “.
Khẩu 12 ly 8 của địch đã bị tiêu diệt, chúng tôi ào lên tiến sát bờ ao, nơi có mấy cây chuối mọc.
- “ Chà, mệt. Nghỉ cái đã chúng mày”. Anh Nhạn “ Khùng “ bảo nhỏ chúng tôi.
Chúng tôi nằm lăn ra cạnh bờ ao và khát nước. Suốt mấy tiếng đồng hồ chiến đấu dưới trời nắng chói chang, chiếc bi đông đầy nước từ sáng đến giờ đã không còn một giọt. Tôi lấy dao găm xả luôn cây chuối nhỏ mọc ngay trước mặt. Móc lấy phần lõi cho luôn vào mồm nhai. Chát thế không biết. Thằng Minh nhai thấy chát quá liền phun ra phì phì. Nó tháo chiếc mũ sắt vục ngay một mũ nước ao, cái thứ nước đục ngầu, tanh tanh, ngờn ngợn đất đưa ngay lên mồm tu ừng ực. Thôi thì theo nó vậy, tôi cũng làm một hơi. Ngọt, mát và đã khát quá. Thằng nào đói, đã có lương khô. Ăn lương khô 701, uống nước ao tù, làm gì mà chẳng no bụng !!!
Lại nói một chút về nơi chúng tôi đứng chân. B tôi chiếm giữ một vị trí ở đầu phum, ngay phía sau lưng là một con đường nhỏ nối phum với lộ 1 dài chừng 100 m, chếch sang bên trái, phía sau con đường là nơi đặt khẩu DK 82 của C14 thằng Long ngay cạnh vườn trồng đào lột hột. Phía trước băng qua một cánh đồng hẹp rộng chừng 250 mét là phum Ang Kunh địch đang chiếm giữ. Bên tay phải là chốt của B1 trong cùng đại đội. B của tôi nằm ngoài cùng, hơi chếch phía trên so với khẩu DK của C14. Chếch bên tay phải là một khoảng rừng tràm thấp nhưng rất rậm rạp. Bọn địch thường lợi dụng khu rừng tràm này để lẻn vào tập kích đơn vị tôi. Chốt của tôi, thằng Minh, anh Nhạn là một khu vườn nhỏ nằm ngoài cùng. Trên chốt có hai cái hầm, một hầm chữ Z là hầm chiến đấu, một hầm thùng dùng để ngủ. Trên nóc hầm thùng có lát bằng ba tấm gỗ tốt, dày khoảng 15 phân to như chiếc phản. Mặt gỗ bóng nhãy. Chiều nào yên tĩnh, tôi và thằng Minh cũng leo lên nóc hầm nằm gác chân lên nhau nói chuyện chơi. Chuyện gia đình, chuyện quê hương, bạn bè, chuyện về “ Trăng sáng “ của nó. Nó cứ nhớ mãi hình ảnh đôi chân trắng nõn của nàng khi đi gánh nước. Trắng nõn...trắng sáng...trắng lấp lánh chập chờn khi ẩn khi hiện trong dòng hồi tưởng. Rồi nó kể nó làm quen với cô nàng ra sao, chuyện tình của nó với cô nàng đến đâu rồi... Còn tôi, tôi cứ nằm trên tấm phản, vừa nghe chuyện của nó, vừa ngắm nhìn những đàn ngỗng trời bay miệt mài lên hướng bắc. Ôi, giá mà mình được là con ngỗng này nhỉ. Chắc chỉ một hai hôm sau là mình có thể chao cánh bay lượn trên bầu trời Hà nội thân thuộc rồi. Cứ như vậy...
Hôm nào rảnh, chúng tôi lại chuồn sang khẩu đội DK 82 của thằng Long chơi. Sang đó để ngồi nghe chuyện do một anh lính 74 người Thanh hoá kể, thôi thì đủ các chuyện. Từ “ Vết thù hằn trên lưng ngựa hoang “, rồi chuyện Tam quốc... ( Mà sao anh ấy lại có thể thuộc làu làu đến như vậy nhỉ? ). Khi thì tán chuyện tào lao đủ thứ trên đời.
Thằng Long vẫn cứ như vậy, vẫn ù lì như thường lệ. Nó ngồi trong hầm chăm chú đọc sách mặc kệ mọi chuyện ầm ào diễn ra xung quanh. Nó đọc những gì mà chăm chú đến vậy? Thưa các bạn, nó đang nghiền nào tiếng Anh, toán, lý ,hoá ... Nó bảo với tôi rằng nó phải ôn kẻo lại quên mất. Sau khi ra quân, nó sẽ tiếp tục thi vào Bách khoa. Ôi, ông bạn “ Thần sầu “ của tôi ơi, ông mơ mộng quá, hâm quá mất rồi. Nhưng rồi sau đó một tuần, trong trận đánh tấn công đầu tiên, dưới sức nặng của những quả DK 82 nó phải mang vác, nó mới hiểu ra rằng có lẽ những quyển sách toán , lý, hoá ...kia phải ném xuống vệ đường. Có chăng chỉ giữ lại quyển nào có giấy tốt tốt, mềm mềm để phục vụ cho công đoạn cuối cùng trong hệ ...tiêu hoá. ( Lúc ấy, chưa thằng nào trong chúng tôi nghiện thuốc lá, thuốc rê ).
Chiều ngày 15.06.1978, chúng tôi tập trung lên quan sát sở đại đội nghe bổ biến về chiến dịch tấn công sẽ diễn ra ngày mai. Chúng tôi sẽ phải đánh chiếm mục tiêu là ngã ba Chi Phu. Đội hình tiến công sẽ được xe tăng T54 và M41 yểm trợ, pháo quân đoàn, pháo sư đoàn chi viện bằng 155 mm và 105 mm. Tôi thấy thái độ của anh Nhạn tỏ ra rất vui. Anh bảo chúng tôi:
- Ngày mai đánh chắc cũng nhàn thôi, đù má ( lại đù má ) chúng mày đừng lo.
Chúng tôi được phát bổ xung đạn dược, lương khô và mỗi thằng tiêu chuẩn được một hộp thịt gà - Hà lan hẳn hoi, nặng 800gr. Bên ngoài có đề “ hàng viện trợ cho nhân dân Việt nam trong cơn bão số... “. Có lẽ chúng tôi may mắn được hưởng ké đây mà. Buổi chiều hôm ấy, bữa cơm thật là tươm tất. Có canh rau tập tàng, có đọt dừa xào với...nước thịt gà hộp, có thịt gà hộp đã ướp thêm chút gia vị, bột ngọt, có bát bột canh trộn ớt bằm nhuyễn. Tất nhiên không thể quên cảm ơn các anh nuôi đã mang cho các B một vài lít chất cay. Cứ chén xả phanh đi, ngày mai rồi hãy tính. Đã có mỗi thằng mấy phong lương khô 701 rồi, sợ gì đói. Bữa ăn thật quá đã. Ăn xong, có trà Blao, thuốc lá Đà lạt. Chỉ cần cạy quả mìn Claymo ra, véo một ít thuốc nổ bằng đầu ngón tay dẻo như kẹo kéo là chúng tôi đủ nấu nước uống cho cả bọn. Ngọn lửa xanh lè, nóng rừng rực.
5 giờ sáng hôm sau, chúng tôi băng qua mấy thửa ruộng trước mặt, bí mật tiền nhập, chiếm lĩnh vị trí tấn công. Tiến đến sát bờ tre phía ngoài phum Ang Kunh trước mặt, thằng Minh, anh Nhạn giá chặt 2 quả Claymo xuống đất, rồi dòng dây điện về chỗ chúng tôi. Tôi cũng giá khẩu RPD nhằm thẳng vào ô cửa sổ của căn nhà sàn lợp ngói.
Oàng...oàng....oàng... Pháo quân đoàn, sư đoàn đã đồng loạt nổ. Những ánh lửa chớp lên nhang nháng. Ùng ..oàng..ùng...oàng tiếng DK82 của B thằng Long đang quất từng quả đĩnh đạc. Anh Nhạn, thằng Minh cũng bấm 2 quả Claymo, thực ra tôi đã nhìn thấy thằng địch nào đâu mà hai ông ấy vẫn cứ bấm. Chắc cho nó nhẹ để còn xung phong. Tôi nhằm thẳng ô cửa sổ kéo từng điểm xạ ngắn. Anh Nhạn nhìn tôi gật gù ra chiều ưng ý lắm. Liếc sang cạnh, thằng Minh mặt lấm tấm mồ hôi đang mím mồm, mím lợi điểm xạ hai viên một. Chà, bài học “ sâu tay cò, không lo tắc cú “ bây giờ mới mang ra sử dụng đây, Tôi thầm nghĩ. Phía bên tay trái, trên lộ 1, những chiếc xe tăng T54 và M41 lừ lừ hành tiến, thỉnh thoảng lại giật lên một cái, chớp lửa đầu nòng loé lên rồi tôi mới nghe thấy một tiếng... Oành !
- Đù má, lên tụi bay.
Anh Nhạn tay xách khẩu M79 vọt lên phía trước. Thằng Minh tiến sát theo sau. Tôi lễ mễ ôm khẩu súng “ khốn nạn “ của tôi lao lên, vừa chạy tôi vừa quét túi bụi. Bắn bừa đi cho nó nhẹ bớt. Tiếp cận được tới bờ một con kênh đào, tôi dừng lại để thay hộp tiếp đạn. Thế là hết 100 viên. Bọn địch không chịu nổi trước sức tấn công mãnh liệt của chúng tôi đã bắt đầu rút chạy. Chúng chạy toé ra cánh đồng phía bên tay phải. Những bóng người mặc quần áo đen chạy bán sống bán chết. Thằng mang theo vũ khí, thằng chạy tay không. Chắc là bên cánh trái, với sự có mặt của xe tăng, chúng không dám rút theo phía bên ấy. Chúng không ngờ rằng bên này lại có chúng tôi đang nằm phục đóng lõng. Cả B tôi đồng loạt nổ súng, tiếng cóc..cóc.. oành .. oành của khẩu M79 của anh Nhạn rung lên như tiếng trống, tiếng AK của thằng Minh, tiếng RPD của tôi hoà nhịp hệt như một dàn hoà tấu khi khoan, khi nhặt. Vừa bắn, tôi lại phải vừa để ý nhặt từng dây tiếp đạn rơi ra. Không nhặt thì tí nữa lấy gì mà lắp đạn. Sao cái loại súng này thiết kế dở thế không biết !!! Chúng tôi lao dọc theo bờ kênh, tiến một đoạn ngắn, tôi nhìn thấy một thắng lính Pôn Pốt, nằm ngay trong lòng kênh cạn nước thở phì phò. Một đoạn ruột chắc dính mảnh xé rách bụng lòi ra ngoài. Tôi bỗng thấy thương cảm, đi đến gần định lấy ra cuộn bằng Mỹ để băng giúp cho nó. Thằng Minh gọi giật giọng :
- Thọ, để đấy tao băng cho nó cho.
Tôi vừa ngoảnh lại thì tằng tằng...tằng tằng. Cả bốn viên AK đã găm vào ngực tên lính. Thằng Miên mắt trợn ngược lên, đầu nghẹo sang một bên. Nó đã về với nước chúa.
Thằng Minh lầu bầu :
- Đằng nào mà nó chẳng chết, lòi ruột gan ra rồi. Mày băng cho nó, thế tí nữa mày bị thì lấy c..ra mà băng à?
Nó mắng tôi xối xả. Dù thế nào, trong tôi vẫn cảm thấy bàng hoàng. Đến gần trưa, chúng tôi đã tiến được chừng khoảng 1 cây số và nhập vào đội hình chiến đấu của tiểu đoàn. Vác trên vai khẩu súng, tôi lững thững đi theo sau mấy cái T54 đang hành tiến. Cạnh đấy, thằng Long mặt mày đen nhẻm khói súng vừa đi vừa cười nhăn nhó, quả DK 82 trên vai chắc là nặng lắm đấy. Ba lô sách của nó đã biến đi đâu mất, thay vào đó là cái túi mìn Claymo mỏng mảnh. Có thế chứ, đã sáng mắt ra chưa “ con “.
Giữa trận mạc tùm lum khói súng thế này còn bày đặt học với cả hành. Đúng là “ cả ngố “. Anh Nhạn nhay nháy mắt cười, nói với chúng tôi :
- Đù má, tao đã bảo mà. Chúng mày thấy không, trận này đánh nhàn lắm mà.
Ngã ba Chi phu vẫn còn cách xa chừng hai, ba cây số. Chúng tôi không đánh thẳng theo trục lộ mà lại rẽ sang phía tay trái đánh sang Phum Prey Ko Ki. Phía trước, cách chừng 200 m là mấy dãy nhà ngói dài, xem chừng giống như một khu trường học cũ. Cặp bên trái khu trường là một con kênh khô cạn chạy dọc thẳng tắp. Phía trước khu trường, bên cạnh chiếc ao nhỏ, những bụi chuối mọc xanh mướt mát. Chúng tôi vọt lên chạy phía trước những chiếc xe tăng, bỗng thằng Minh lấy báng súng gõ gõ vào thằng chiếc T54, anh lính phụ trách khẩu 12 ly 8 cúi xuống gào lên :
- Cái gì vậy ông?
Theo hướng tay chỉ của thằng Minh, một khẩu 12 ly 8 của địch đặt trên ô cửa sổ ngôi nhà sàn mái ngói phía xa đang khạc lửa mãnh liệt vào đội hình chúng tôi. Anh lính xe tăng gật đầu rồi tụt vào xe. Chiếc xe dừng lại, chiếc nòng pháo, từ từ quay o o lấy hướng xạ kích. Oàng.... một nửa ngôi nhà mái đỏ biến mất. Quá chính xác ! Với khoảng cách gần một cây số mà T54 bắn, phải nói là “ thôi rồi Lượm ơi “.
Khẩu 12 ly 8 của địch đã bị tiêu diệt, chúng tôi ào lên tiến sát bờ ao, nơi có mấy cây chuối mọc.
- “ Chà, mệt. Nghỉ cái đã chúng mày”. Anh Nhạn “ Khùng “ bảo nhỏ chúng tôi.
Chúng tôi nằm lăn ra cạnh bờ ao và khát nước. Suốt mấy tiếng đồng hồ chiến đấu dưới trời nắng chói chang, chiếc bi đông đầy nước từ sáng đến giờ đã không còn một giọt. Tôi lấy dao găm xả luôn cây chuối nhỏ mọc ngay trước mặt. Móc lấy phần lõi cho luôn vào mồm nhai. Chát thế không biết. Thằng Minh nhai thấy chát quá liền phun ra phì phì. Nó tháo chiếc mũ sắt vục ngay một mũ nước ao, cái thứ nước đục ngầu, tanh tanh, ngờn ngợn đất đưa ngay lên mồm tu ừng ực. Thôi thì theo nó vậy, tôi cũng làm một hơi. Ngọt, mát và đã khát quá. Thằng nào đói, đã có lương khô. Ăn lương khô 701, uống nước ao tù, làm gì mà chẳng no bụng !!!
Tổ tam tam - Lê Thế Thọ (P5)
Ra trận
Chúng tôi hành quân theo hàng một ra đến lộ, mấy cái xe Reo quân sự đã đợi sẵn ở đó. Cả tiểu đoàn lên xe nhằm biên giới thẳng tiến. Xe đi đến một ngôi chùa nhỏ ven đường thì dừng lại. Chính trị viên đại đội ( người Hải phòng - tôi quên mất tên rồi ) nói lớn :
- Đây là “ cứ ba lô “ của đại đội ta tại Mộc Bài, các đồng chí tân binh đưa hết đồ đạc, tư trang không cần thiết xuống xe để cất vào “ cứ “. Mỗi đồng chí chỉ nên mang theo những thứ thật cần thiết như : Mùng, khăn mặt, bàn trải đánh răng, quần áo lót và một bộ quần áo dài. Còn những thứ khác không cần thiết thì để lại.
Tôi và thằng Minh nhanh chóng thống nhất bỏ nốt bộ quần áo dài ở lại, Chỉ mặc duy nhất một bộ trên người cho nó nhẹ. Tôi cố đem theo thêm một quyển sổ tay ghi chép, một cái bút Trung quốc và mấy chiếc phong bì để viết thư. Đoàn xe lao nhanh.
Biên giới là đây ư, một dải bờ đê mới đắp, bên trên trồng chi chít những cây tre gai chạy dài tít tắp. Mấy cái nhà đổ vỡ tan hoang, nơi đây chắc trước là nhà của đồn biên phòng. Bên kia biên giới, những cánh đồng mênh mông không một bóng người, những cây Thốt lốt mọc men theo bờ ruộng, in bóng u buồn trên nền trời mây giăng xám xịt. Chiều đang dần buông, không khí vắng lặng hoang tàn, lạnh lẽo. Xe chạy khoảng vài chục phút thì dừng lại. Tôi nhẩm tính xe mới chạy được khoảng chục cây số là cùng.
- Tất cả xuống xe. Xe chỉ chở các đồng chí đến đây. Còn từ đây trở đi, các đồng chí hành quân bộ.
Anh Hành – Lê Đại Hành ( tức Hành “ chéc “ ) - chính trị viên tiểu đoàn lên tiếng.
Chúng tôi xuống xe. Đường hãy còn tốt sao không chở anh em đi một đoạn nữa, đến lúc nào đường không đi được nữa thì thôi. Tôi thầm thắc mắc. Như thấu hiểu suy nghĩ của tôi, một anh lính cũ ( sau tôi mới biết đấy là B trưởng B tôi – Anh Nhạn, Nhạn Khùng ) nói để tôi hay :
- Thật ra xe có thể đi đến tận “ cứ “ anh nuôi, nhưng đù má mấy thằng lái xe D29 này nó sợ bị Miên nó phụt DK nên bắt anh em mình xuống đây đấy.
À, thì ra là vậy. Có nghĩa là chúng tôi đã rất gần địch rồi. Chúng tôi đi khoảng một lúc là tới cứ anh nuôi của đại đội. Một căn nhà ở ngay ven lộ 1, chúng tôi tạt vào hạ súng xuống ngồi nghỉ. Mới có một đoạn đường mà sao tôi đã thấy oải vì khẩu súng quá nặng. Khi còn huấn luyện, tôi cũng giữ khẩu này nhưng chỉ giữ để lau chùi bảo quản thôi làm gì có đạn. Còn bây giờ chỉ thêm 3 cơ số đạn nữa thôi mà sao nó nặng thế không biết. Chúng tôi được anh nuôi chia cơm, cơm nóng ăn với tép rang ( lại tép rang – Tôi sợ tép rang từ hồi ấy cho đến tận bây giờ ) và mỗi thằng hai nắm cơm vắt cùng một gói tép ( lại tép ), tiêu chuẩn để ăn cho đến chiều hôm sau. Ăn xong, chúng tôi ngồi nghỉ trên những khúc gỗ tròn nằm rải rác xung quanh ngôi nhà.
Bỗng Ùng...ùng..ùng.... vu...vu...vu..
Tôi và thằng Minh nhanh như cắt, ôm súng lao cắm đầu vào cửa hầm chữ A ngay bên cạnh chỗ ngồi. Trong hầm đầy bùn và nước lõm bõm. Ầm...ầm...ầm tiếng pháo nổ từ phía rất xa vọng lại. Tiếng cười rộn lên khắp nơi. Tốp lính cũ đang cười ngả cười nghiêng. Anh Nhạn “ khùng “ B trưởng vội giải thích cho chúng tôi :
- Chúng mày phải lắng nghe để phân biệt, tiếng ùng..ùng đấy là tiếng nổ đầu nòng của cối 82 ly, còn tiếng vu...vu.. là tiếng đạn nó bay trên đầu mình, vậy là nó sẽ rơi ở rất xa chỗ mình đứng. Lúc nào mày nghe thấy nó xẹt...xẹt chói tai thì phải lăn ngay xuống, dù đấy là rãnh nước hay hố nước. Nó sẽ lao xuống và nổ ngay bên cạnh mình đấy. Đù má, may thì mình sống, không may thì mình dính. Chúng mày lao vào hầm như lúc nãy là...đù má.. không kịp đâu.
Thỉnh thoảng, trong câu nói của anh cứ kèm hai tiếng “ đù má “.Nhưng tôi vẫn nhìn anh với tấm lòng biết ơn. Bài học đầu tiên của chúng tôi trên chiến trường thật sống động và dễ nhớ. Giáo cụ trực quan là quả pháo nhằm bắn thẳng vào chúng tôi, kết quả bài học là mạng sống của chúng tôi. Làm gì mà chẳng dễ thuộc. Anh còn hướng dẫn chúng tôi từ cách mắc tăng võng như thế nào vừa chắc chắn nhưng vừa dễ tháo khi cần mà lại không bị nước mưa hắt vào khi mưa to. Tôi biết những lời dặn dò của anh là sự đúc kết xương máu của biết bao thế hệ những người lính chiến chúng tôi. Anh nói : “ Trên chiến trường, chúng mày nhanh 1/10 giây là chúng mày thắng, chúng mày chậm 1/10 giây là “ đù má “ chúng mày phải trả bằng mạng sống. Hãy nhớ lấy điều đó “. Nhưng anh ơi, học thì thuộc đấy nhưng hành thì thật là khó. Nào ai biết thế nào là nhanh, thế nào là chậm đây. Lúc biết ra thì tất cả đã là quá muộn rồi. Anh đưa cho tôi và thằng Minh mỗi đứa một cái túi mìn Claymo còn khá mới để đựng những đồ lặt vặt. Thằng Minh bây giờ ngoài khẩu AK còn có nhiệm vụ mang thêm quả Claymo nữa.
Trời tối hẳn, chúng tôi bắt đầu di chuyển. Lúc đầu, cả tiểu đoàn còn di chuyển ngay trên mặt lộ. Đi được khoảng hơn 1 cây số, chúng tôi bắt đầu rẽ trái xuống đi men theo ven lộ. Hôm nay đã là hạ tuần rồi, trăng mọc rất muộn vả lại cũng nhiều mây nên trời tối đen. Tôi quan sát xung quanh mà chẳng nhìn thấy gì, chỉ thấy bóng những cây thốt lốt đen thui in bóng lên nền trời mờ ảo. Thỉnh thoảng, lệnh từ phía trên truyền xuống thì thào..im lặng...im lặng hoặc ...đi thấp xuống, cúi thấp xuống. Nghe lệnh đi thấp xuống, tôi lom lưng thấp xuống nhưng chỉ một đoạn ngắn lưng tôi đã mỏi nhừ. Khẩu RPD bây giờ mới tỏ rõ cho tôi biết sức nặng của nó, cái hộp tiếp đạn dự phòng cứ lách cách đập vào chiếc Xanh tuya lông làm hông tôi càng mau mỏi. Mình thật là ngu. Tôi lầm bẩm. Bỗng một bàn tay ấn vào vai tôi :
- Đi thấp xuống chú em, nó nhìn thấy nó cho một tràng mười hai ly tám bây giờ.
Tôi cố nhìn xung quanh. Có thấy chó gì đâu, tối mù thế này ngay cả người bên cạnh còn chẳng nhìn rõ nữa là địch ở mãi tít tận đâu đâu. Tôi thầm nghĩ. Ngay lúc đó, cùng...cùng...cùng...cùng....Những cục lửa đỏ lừ to bằng nắm tay bay vèo vèo trên mặt lộ. Bỏ mẹ, nó nhìn thấy mình rồi à !!!? Khẩu 12.8 ly của địch đặt ngay trên mặt lộ từ tít phía trên bắn xối xả một lúc rồi im bặt. Anh Nhạn thì thào :
- Nó bắn hú hoạ đấy em ạ. Em chuẩn bị cùng anh vượt lộ nhé. Kiểm tra lại xem đã chắc chắn tất cả chưa?
Tôi xem lại súng đạn, tư trang. Trong lồng ngực, tim tôi đập thình thịnh, hơi thở gấp gáp. Không, chẳng phải tôi sợ đâu nhưng tôi hồi hộp quá. Lần đầu tiên trong đời, tôi phải đi trước một mũi súng cứ rình rập để bắn mình. Đừng cười, cứ thử đi rồi sẽ biết. Nó bắn mình thật chứ đâu phải trò đánh trận giả ngoài Bờ hồ thời còn mặc quần thủng đít mà cười. Cùng...cùng...cùng..loạt đạn vừa dứt, anh Nhạn kéo tôi chạy băng qua mặt lộ rồi anh lại chạy lộn lại phía bên kia. Cứ như vậy, những anh lính cựu binh lần lượt hướng dẫn chúng tôi băng qua mặt lộ một cách an toàn. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Thì ra cũng không có gì ghê gớm lắm nhỉ. Chúng tôi đi men theo bên phải lộ rồi băng qua một khu vườn đào lộn hột ( đấy là sáng hôm sau tôi mới biết ). Trung đội tôi tới chiếm lĩnh một khu vườn rậm rạp. Một đơn vị của E209 - F7 được lệnh rút về tuyến sau bàn giao trận địa lại cho chúng tôi. Chúng tôi ổn định lại đội hình, phân công nhau các hướng phải phụ trách. Tôi và thằng Minh được phân công gác một mũi. Tôi gác từ tối đến nửa đêm, thằng Minh gác từ nửa đêm đến sáng. Chao ôi, nhớ lại ngày còn đang huấn luyện ngoài 308. Cả đại đội mới có một vọng gác. Lần lượt từ trung đội nọ sang trung đội kia, mỗi trung đội gần 30 thằng. Tính ra cả 6, 7 tháng huấn luyện tôi mới phải gác có 3, 4 lần. Mỗi lần 1 tiếng đồng hồ mà đã thấy ngại. Đã có lần trời rét quá, trong phiên gác tôi tìm cái ổ rơm chuyên dùng để ủ thùng nước nóng cho đại đội uống, ngủ một mạch. Đến khi B trưởng thấy quá giờ mà chẳng thấy tôi gọi đổi gác, ra kiểm tra thấy tôi vẫn ôm súng nằm ngủ ngon lành. Kết quả là sáng hôm sau nhận một án kỷ luật là đào một hố chứa rác ngay đầu nhà đại đội. Bàn tay phồng rộp vì đào trên đất đá ong. Vậy mà bây giờ, đêm nào cũng phải gác mà lại chỉ có hai thằng một đêm. Mà mấy ông lính cũ lại cứ nằm ngủ chỏng dái trong hầm. Điên máu thật. Đúng là ma cũ bắt nạt ma mới.
- Thằng em gác đến nửa đêm, lúc nào thấy chòm Tua rua lên đến đỉnh đầu thì vào gọi thằng Minh ra thay gác. Nhớ là chỉ bấm vào chân nó thôi, đừng gọi ầm lên nhé.
Dặn dò xong chúng tôi, anh Vinh “ heo “ chui ngay vào hầm ngủ. Chòm sao Tua rua, cái chòm sao cong cong hình giống như cái dải đất hình chữ S Việt nam ta đó, sao lúc này nó bò lên chậm chạp đến như vậy. Ngồi gác mà tôi cứ ngắm nhìn lên bầu trời. Nó xoay xoay nhích dần lên một cách chậm chạp vô cùng. Xung quanh tôi chỉ còn tiếng vo ve của đàn muỗi khổng lồ háu đói, tiếng côn trùng kêu rên rỉ , ộp oạp từ ngoài cánh đồng vọng vào. Vừa sốt ruột ngắm chòm Tua rua, tai tôi lại phải căng ra để nghe tiếng côn trùng rỉ rả. Lúc nãy, anh Nhạn đã dặn chúng tôi là nếu thấy côn trùng đang kêu mà bỗng im bặt thì phải gọi các anh dậy ngay. Có thể bọn trinh sát Miên nó bò vào tập kích đấy. Đầu óc tôi căng lên như sợi dây đàn. Thỉnh thoảng lại có chú chuột đồng chạy đâm bổ vào chỗ tôi ngồi. Chao ơi là sợ. Kiểu này ngày mai mình phải khâu cái khăn mặt lại thành cái mũ chùm vào đầu để chống muỗi mới được, kẻo sau mấy hôm thì sốt rét là cái chắc. Cái bọn muỗi này xoa thuốc chống muỗi cũng chẳng ăn thua gì. Các bạn hãy hình dung người lính như tôi ngồi gác đêm ra sao nhé. Đầu đội chiếc mũ cối, dưới là chiếc khăn mặt bông màu xanh lá được khâu lại, trùm lên phủ từ trên đầu xuống kín gáy, chỉ hở mỗi đôi mắt. Chân đi đôi giầy lính cao cổ, tất ( vớ ) kéo cao chùm ra ngoài ống quần. Tất cả chỉ để chống muỗi. Phần da thịt nào hở ra ngoài không trùm kín được thì xoa thuốc chống muỗi của Mỹ.
Chúng tôi hành quân theo hàng một ra đến lộ, mấy cái xe Reo quân sự đã đợi sẵn ở đó. Cả tiểu đoàn lên xe nhằm biên giới thẳng tiến. Xe đi đến một ngôi chùa nhỏ ven đường thì dừng lại. Chính trị viên đại đội ( người Hải phòng - tôi quên mất tên rồi ) nói lớn :
- Đây là “ cứ ba lô “ của đại đội ta tại Mộc Bài, các đồng chí tân binh đưa hết đồ đạc, tư trang không cần thiết xuống xe để cất vào “ cứ “. Mỗi đồng chí chỉ nên mang theo những thứ thật cần thiết như : Mùng, khăn mặt, bàn trải đánh răng, quần áo lót và một bộ quần áo dài. Còn những thứ khác không cần thiết thì để lại.
Tôi và thằng Minh nhanh chóng thống nhất bỏ nốt bộ quần áo dài ở lại, Chỉ mặc duy nhất một bộ trên người cho nó nhẹ. Tôi cố đem theo thêm một quyển sổ tay ghi chép, một cái bút Trung quốc và mấy chiếc phong bì để viết thư. Đoàn xe lao nhanh.
Biên giới là đây ư, một dải bờ đê mới đắp, bên trên trồng chi chít những cây tre gai chạy dài tít tắp. Mấy cái nhà đổ vỡ tan hoang, nơi đây chắc trước là nhà của đồn biên phòng. Bên kia biên giới, những cánh đồng mênh mông không một bóng người, những cây Thốt lốt mọc men theo bờ ruộng, in bóng u buồn trên nền trời mây giăng xám xịt. Chiều đang dần buông, không khí vắng lặng hoang tàn, lạnh lẽo. Xe chạy khoảng vài chục phút thì dừng lại. Tôi nhẩm tính xe mới chạy được khoảng chục cây số là cùng.
- Tất cả xuống xe. Xe chỉ chở các đồng chí đến đây. Còn từ đây trở đi, các đồng chí hành quân bộ.
Anh Hành – Lê Đại Hành ( tức Hành “ chéc “ ) - chính trị viên tiểu đoàn lên tiếng.
Chúng tôi xuống xe. Đường hãy còn tốt sao không chở anh em đi một đoạn nữa, đến lúc nào đường không đi được nữa thì thôi. Tôi thầm thắc mắc. Như thấu hiểu suy nghĩ của tôi, một anh lính cũ ( sau tôi mới biết đấy là B trưởng B tôi – Anh Nhạn, Nhạn Khùng ) nói để tôi hay :
- Thật ra xe có thể đi đến tận “ cứ “ anh nuôi, nhưng đù má mấy thằng lái xe D29 này nó sợ bị Miên nó phụt DK nên bắt anh em mình xuống đây đấy.
À, thì ra là vậy. Có nghĩa là chúng tôi đã rất gần địch rồi. Chúng tôi đi khoảng một lúc là tới cứ anh nuôi của đại đội. Một căn nhà ở ngay ven lộ 1, chúng tôi tạt vào hạ súng xuống ngồi nghỉ. Mới có một đoạn đường mà sao tôi đã thấy oải vì khẩu súng quá nặng. Khi còn huấn luyện, tôi cũng giữ khẩu này nhưng chỉ giữ để lau chùi bảo quản thôi làm gì có đạn. Còn bây giờ chỉ thêm 3 cơ số đạn nữa thôi mà sao nó nặng thế không biết. Chúng tôi được anh nuôi chia cơm, cơm nóng ăn với tép rang ( lại tép rang – Tôi sợ tép rang từ hồi ấy cho đến tận bây giờ ) và mỗi thằng hai nắm cơm vắt cùng một gói tép ( lại tép ), tiêu chuẩn để ăn cho đến chiều hôm sau. Ăn xong, chúng tôi ngồi nghỉ trên những khúc gỗ tròn nằm rải rác xung quanh ngôi nhà.
Bỗng Ùng...ùng..ùng.... vu...vu...vu..
Tôi và thằng Minh nhanh như cắt, ôm súng lao cắm đầu vào cửa hầm chữ A ngay bên cạnh chỗ ngồi. Trong hầm đầy bùn và nước lõm bõm. Ầm...ầm...ầm tiếng pháo nổ từ phía rất xa vọng lại. Tiếng cười rộn lên khắp nơi. Tốp lính cũ đang cười ngả cười nghiêng. Anh Nhạn “ khùng “ B trưởng vội giải thích cho chúng tôi :
- Chúng mày phải lắng nghe để phân biệt, tiếng ùng..ùng đấy là tiếng nổ đầu nòng của cối 82 ly, còn tiếng vu...vu.. là tiếng đạn nó bay trên đầu mình, vậy là nó sẽ rơi ở rất xa chỗ mình đứng. Lúc nào mày nghe thấy nó xẹt...xẹt chói tai thì phải lăn ngay xuống, dù đấy là rãnh nước hay hố nước. Nó sẽ lao xuống và nổ ngay bên cạnh mình đấy. Đù má, may thì mình sống, không may thì mình dính. Chúng mày lao vào hầm như lúc nãy là...đù má.. không kịp đâu.
Thỉnh thoảng, trong câu nói của anh cứ kèm hai tiếng “ đù má “.Nhưng tôi vẫn nhìn anh với tấm lòng biết ơn. Bài học đầu tiên của chúng tôi trên chiến trường thật sống động và dễ nhớ. Giáo cụ trực quan là quả pháo nhằm bắn thẳng vào chúng tôi, kết quả bài học là mạng sống của chúng tôi. Làm gì mà chẳng dễ thuộc. Anh còn hướng dẫn chúng tôi từ cách mắc tăng võng như thế nào vừa chắc chắn nhưng vừa dễ tháo khi cần mà lại không bị nước mưa hắt vào khi mưa to. Tôi biết những lời dặn dò của anh là sự đúc kết xương máu của biết bao thế hệ những người lính chiến chúng tôi. Anh nói : “ Trên chiến trường, chúng mày nhanh 1/10 giây là chúng mày thắng, chúng mày chậm 1/10 giây là “ đù má “ chúng mày phải trả bằng mạng sống. Hãy nhớ lấy điều đó “. Nhưng anh ơi, học thì thuộc đấy nhưng hành thì thật là khó. Nào ai biết thế nào là nhanh, thế nào là chậm đây. Lúc biết ra thì tất cả đã là quá muộn rồi. Anh đưa cho tôi và thằng Minh mỗi đứa một cái túi mìn Claymo còn khá mới để đựng những đồ lặt vặt. Thằng Minh bây giờ ngoài khẩu AK còn có nhiệm vụ mang thêm quả Claymo nữa.
Trời tối hẳn, chúng tôi bắt đầu di chuyển. Lúc đầu, cả tiểu đoàn còn di chuyển ngay trên mặt lộ. Đi được khoảng hơn 1 cây số, chúng tôi bắt đầu rẽ trái xuống đi men theo ven lộ. Hôm nay đã là hạ tuần rồi, trăng mọc rất muộn vả lại cũng nhiều mây nên trời tối đen. Tôi quan sát xung quanh mà chẳng nhìn thấy gì, chỉ thấy bóng những cây thốt lốt đen thui in bóng lên nền trời mờ ảo. Thỉnh thoảng, lệnh từ phía trên truyền xuống thì thào..im lặng...im lặng hoặc ...đi thấp xuống, cúi thấp xuống. Nghe lệnh đi thấp xuống, tôi lom lưng thấp xuống nhưng chỉ một đoạn ngắn lưng tôi đã mỏi nhừ. Khẩu RPD bây giờ mới tỏ rõ cho tôi biết sức nặng của nó, cái hộp tiếp đạn dự phòng cứ lách cách đập vào chiếc Xanh tuya lông làm hông tôi càng mau mỏi. Mình thật là ngu. Tôi lầm bẩm. Bỗng một bàn tay ấn vào vai tôi :
- Đi thấp xuống chú em, nó nhìn thấy nó cho một tràng mười hai ly tám bây giờ.
Tôi cố nhìn xung quanh. Có thấy chó gì đâu, tối mù thế này ngay cả người bên cạnh còn chẳng nhìn rõ nữa là địch ở mãi tít tận đâu đâu. Tôi thầm nghĩ. Ngay lúc đó, cùng...cùng...cùng...cùng....Những cục lửa đỏ lừ to bằng nắm tay bay vèo vèo trên mặt lộ. Bỏ mẹ, nó nhìn thấy mình rồi à !!!? Khẩu 12.8 ly của địch đặt ngay trên mặt lộ từ tít phía trên bắn xối xả một lúc rồi im bặt. Anh Nhạn thì thào :
- Nó bắn hú hoạ đấy em ạ. Em chuẩn bị cùng anh vượt lộ nhé. Kiểm tra lại xem đã chắc chắn tất cả chưa?
Tôi xem lại súng đạn, tư trang. Trong lồng ngực, tim tôi đập thình thịnh, hơi thở gấp gáp. Không, chẳng phải tôi sợ đâu nhưng tôi hồi hộp quá. Lần đầu tiên trong đời, tôi phải đi trước một mũi súng cứ rình rập để bắn mình. Đừng cười, cứ thử đi rồi sẽ biết. Nó bắn mình thật chứ đâu phải trò đánh trận giả ngoài Bờ hồ thời còn mặc quần thủng đít mà cười. Cùng...cùng...cùng..loạt đạn vừa dứt, anh Nhạn kéo tôi chạy băng qua mặt lộ rồi anh lại chạy lộn lại phía bên kia. Cứ như vậy, những anh lính cựu binh lần lượt hướng dẫn chúng tôi băng qua mặt lộ một cách an toàn. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Thì ra cũng không có gì ghê gớm lắm nhỉ. Chúng tôi đi men theo bên phải lộ rồi băng qua một khu vườn đào lộn hột ( đấy là sáng hôm sau tôi mới biết ). Trung đội tôi tới chiếm lĩnh một khu vườn rậm rạp. Một đơn vị của E209 - F7 được lệnh rút về tuyến sau bàn giao trận địa lại cho chúng tôi. Chúng tôi ổn định lại đội hình, phân công nhau các hướng phải phụ trách. Tôi và thằng Minh được phân công gác một mũi. Tôi gác từ tối đến nửa đêm, thằng Minh gác từ nửa đêm đến sáng. Chao ôi, nhớ lại ngày còn đang huấn luyện ngoài 308. Cả đại đội mới có một vọng gác. Lần lượt từ trung đội nọ sang trung đội kia, mỗi trung đội gần 30 thằng. Tính ra cả 6, 7 tháng huấn luyện tôi mới phải gác có 3, 4 lần. Mỗi lần 1 tiếng đồng hồ mà đã thấy ngại. Đã có lần trời rét quá, trong phiên gác tôi tìm cái ổ rơm chuyên dùng để ủ thùng nước nóng cho đại đội uống, ngủ một mạch. Đến khi B trưởng thấy quá giờ mà chẳng thấy tôi gọi đổi gác, ra kiểm tra thấy tôi vẫn ôm súng nằm ngủ ngon lành. Kết quả là sáng hôm sau nhận một án kỷ luật là đào một hố chứa rác ngay đầu nhà đại đội. Bàn tay phồng rộp vì đào trên đất đá ong. Vậy mà bây giờ, đêm nào cũng phải gác mà lại chỉ có hai thằng một đêm. Mà mấy ông lính cũ lại cứ nằm ngủ chỏng dái trong hầm. Điên máu thật. Đúng là ma cũ bắt nạt ma mới.
- Thằng em gác đến nửa đêm, lúc nào thấy chòm Tua rua lên đến đỉnh đầu thì vào gọi thằng Minh ra thay gác. Nhớ là chỉ bấm vào chân nó thôi, đừng gọi ầm lên nhé.
Dặn dò xong chúng tôi, anh Vinh “ heo “ chui ngay vào hầm ngủ. Chòm sao Tua rua, cái chòm sao cong cong hình giống như cái dải đất hình chữ S Việt nam ta đó, sao lúc này nó bò lên chậm chạp đến như vậy. Ngồi gác mà tôi cứ ngắm nhìn lên bầu trời. Nó xoay xoay nhích dần lên một cách chậm chạp vô cùng. Xung quanh tôi chỉ còn tiếng vo ve của đàn muỗi khổng lồ háu đói, tiếng côn trùng kêu rên rỉ , ộp oạp từ ngoài cánh đồng vọng vào. Vừa sốt ruột ngắm chòm Tua rua, tai tôi lại phải căng ra để nghe tiếng côn trùng rỉ rả. Lúc nãy, anh Nhạn đã dặn chúng tôi là nếu thấy côn trùng đang kêu mà bỗng im bặt thì phải gọi các anh dậy ngay. Có thể bọn trinh sát Miên nó bò vào tập kích đấy. Đầu óc tôi căng lên như sợi dây đàn. Thỉnh thoảng lại có chú chuột đồng chạy đâm bổ vào chỗ tôi ngồi. Chao ơi là sợ. Kiểu này ngày mai mình phải khâu cái khăn mặt lại thành cái mũ chùm vào đầu để chống muỗi mới được, kẻo sau mấy hôm thì sốt rét là cái chắc. Cái bọn muỗi này xoa thuốc chống muỗi cũng chẳng ăn thua gì. Các bạn hãy hình dung người lính như tôi ngồi gác đêm ra sao nhé. Đầu đội chiếc mũ cối, dưới là chiếc khăn mặt bông màu xanh lá được khâu lại, trùm lên phủ từ trên đầu xuống kín gáy, chỉ hở mỗi đôi mắt. Chân đi đôi giầy lính cao cổ, tất ( vớ ) kéo cao chùm ra ngoài ống quần. Tất cả chỉ để chống muỗi. Phần da thịt nào hở ra ngoài không trùm kín được thì xoa thuốc chống muỗi của Mỹ.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)